Tài liệu cad

Thư viện CAD xe ô tô: 1 tệp DWG và cách đặt đúng tỉ lệ

Thư viện CAD xe ô tô gồm 1 tệp DWG với hơn 30 khối xe con. Link tải, mật khẩu giải nén, cách đo lại tỉ lệ, kích thước ô đỗ và bán kính quay vòng.

  • autocad123.vn
  • 15/08/2023

Thư viện CAD xe ô tô trên trang này là một gói nén chứa đúng một tệp DWG, bên trong có hơn ba chục khối xe con vẽ sẵn. Bài cũ năm 2020 chỉ đưa link tải và vài ảnh chụp. Bản này giữ nguyên link đó, thêm phần mà người vẽ mặt bằng và phối cảnh cần hơn: trong tệp thật sự có gì, và vì sao việc đầu tiên phải làm sau khi chèn xe là đo lại kích thước.

Tóm tắt. Mật khẩu giải nén: autocad123. Bên trong là một tệp duy nhất tên s107.xeoto.dwg, định dạng AutoCAD 2013, nặng 553 KB. Phần đầu tệp ghi biến INSUNITS bằng 0, nghĩa là bản vẽ không khai báo đơn vị. AutoCAD sẽ không tự quy đổi tỉ lệ khi bạn chèn khối xe sang bản vẽ của mình. Đo bằng lệnh DIST trước, dùng sau.

Trong gói thư viện CAD xe ô tô có những gì

Bảng dưới đây đọc thẳng từ tệp DWG, kiểm tháng 9 năm 2026. Tên khối trong tệp chia thành mấy nhóm rõ rệt, và cách đặt tên cho biết khá nhiều về hướng nhìn của từng nhóm.

Nhóm tên khốiSố tên đọc đượcGhi chú
mb-xecon1 đến mb-xecon44Tiền tố mb là cách viết tắt quen thuộc của mặt bằng, tức hình nhìn từ trên xuống
md-xecon1 đến md-xecon99Nhóm đông nhất, tiền tố md ứng với mặt đứng, tức hình nhìn ngang
mt-xecon1 đến mt-xecon55Nhóm nhỏ, tiền tố mt nhiều khả năng là hình nhìn trực diện đầu hoặc đuôi xe
oto3, oto7, oto11, oto11Z, oto12Z, xe136Đặt tên rời rạc, phải mở ra xem mới biết hướng nhìn
2bcar07, 2bcar09z, 2bcar16, 2pccar01, 2pccar02, 02PCAR086Bộ khối gốc nước ngoài, người đóng gói gộp vào chứ không đặt lại tên
mescedes, NISSAN 200SX2Đặt theo tên xe, chữ mescedes sai chính tả ngay trong tệp gốc

Toàn cảnh các khối xe trong thư viện CAD xe ô tô

Hình 1. Toàn cảnh nội dung gói. Nhìn được cả hai loại hình: dãy nhìn từ trên xuống dùng cho mặt bằng, và dãy nhìn ngang dùng cho mặt đứng. Ngoài xe con còn có xe khách, xe bán tải và xe việt dã.

Tệp còn mang theo dấu vết của bản vẽ gốc mà người đóng gói không dọn. Trong đó có các lớp tên OTO:, CAY:, Dim:, Cao trinh, AVE_RENDER và ARCHTVARS. Có cả một dòng chữ cao độ ±0.000 và một đường dẫn cũ trỏ tới thư mục cài đặt của AutoCAD Architectural Desktop. Đây không phải một thư viện được dựng sạch từ đầu, mà là phần xe cắt ra từ một bản vẽ kiến trúc nào đó.

Một chi tiết đáng chú ý nữa: trong tệp có các khối vô danh tên dạng A$C023C0286 kèm tham số Linear Parameter và Polar Parameter. Đó là dấu hiệu của khối động. Bạn sẽ thấy vài chiếc xe có mũi tên kéo giãn khi chọn vào, đừng kéo bừa vì nó làm sai tỉ lệ.

Tải về và giải nén

Tải về

Thư viện xe ô tô con — 1 tệp DWG

Hơn ba chục khối xe con hai chiều, gồm cả nhóm nhìn từ trên xuống cho mặt bằng và nhóm nhìn ngang cho mặt đứng.

  • Định dạng DWG AutoCAD 2013
  • Dung lượng tải về 513 KB
  • Sau giải nén 1 tệp DWG, 553 KB
  • Số tên khối đọc được hơn 30
Tải bộ thư viện

Mật khẩu giải nén: autocad123

Đừng đi tìm mật khẩu ở nơi khác. Trong gói có kèm một ảnh hướng dẫn bảo bạn lên Google tra một từ khoá rồi kéo xuống cuối một bài viết khác để lấy mật khẩu. Đường vòng đó nay đã gãy. Mật khẩu in ngay trong khung tải phía trên.

Tên tệp bên trong đánh số s107 trong khi bài này mang số s108, đó chỉ là lệch số hiệu nội bộ của người đóng gói, nội dung vẫn đúng là xe ô tô.

Kích thước thật: thứ phải kiểm trước tiên

Khối xe không phải hình trang trí. Nó là công cụ kiểm tra chỗ đỗ và lối vào, nên bắt buộc phải đúng tỉ lệ một trên một theo mét. Vẽ một chiếc xe dài 6 mét vào bãi đỗ rồi kết luận bãi đủ chỗ là kết luận sai từ gốc.

Ở tệp này có một lý do kỹ thuật khiến sai số gần như chắc chắn xảy ra. Biến INSUNITS trong tệp bằng 0, tức là Unitless. Với giá trị đó, AutoCAD không biết một đơn vị bản vẽ trong tệp nguồn dài bao nhiêu, nên không quy đổi gì cả khi chèn. Khối vào bản vẽ của bạn với đúng con số thô của tệp gốc.

Phần đầu tệp cũng ghi phạm vi bản vẽ. Góc dưới bên trái nằm ở toạ độ âm 55.092 và âm 484.966, góc trên bên phải ở 57.591 và 20.242. Bề ngang như vậy khoảng 112.700 đơn vị. Nếu đơn vị là milimét thì bản vẽ rộng chừng 113 mét, hợp lý cho vài chục chiếc xe bày cạnh nhau. Nếu là mét thì thành 113 kilômét, vô lý. Nhiều khả năng tệp vẽ theo milimét, nhưng vì tệp không tự khai báo nên bạn vẫn phải đo.

Cách đo gọn nhất gồm ba bước. Chèn một chiếc ra chỗ trống. Gọi lệnh DIST, bấm mũi xe rồi bấm đuôi xe. So con số đọc được với chiều dài thật của loại xe tương ứng. Muốn sửa nhanh thì gọi SCALE, chọn điểm gốc, gõ R để dùng tuỳ chọn Reference, bấm hai đầu chiếc xe rồi gõ thẳng chiều dài mong muốn. AutoCAD tự tính hệ số phóng, khỏi nhẩm phép chia.

Loại xe phổ biến ở Việt NamDàiRộng
Hạng A, ví dụ Kia Morning, Hyundai i103,60 – 3,85 m1,59 – 1,68 m
Sedan hạng B, ví dụ Toyota Vios, Hyundai Accent4,40 – 4,55 m1,70 – 1,78 m
Sedan hạng D, ví dụ Toyota Camry, Mazda 64,80 – 4,95 m1,83 – 1,86 m
SUV và MPV bảy chỗ, ví dụ Innova, Xpander, Fortuner4,50 – 4,80 m1,75 – 1,86 m
Bán tải, ví dụ Ford Ranger, Toyota Hilux5,25 – 5,45 m1,85 – 1,95 m

Bảng trên là kích thước xe thật ngoài đời, không phải số đo trong tệp. Dùng nó làm mốc đối chiếu. Khi hồ sơ cần chính xác, hãy tra thông số của đúng mẫu xe từ nhà sản xuất.

Bốn phép kiểm trước khi bày xe 1. Đo lại chiếc xe vừa chèn Lệnh DIST, bấm mũi xe rồi bấm đuôi xe 2. So với kích thước xe thật Xe con thường dài 3,6 đến 5,4 mét 3. Đặt vào ô đỗ đúng cỡ Ô hẹp hơn xe thì mặt bằng vô nghĩa 4. Kiểm bán kính quay vòng Xe phải vào ra được, không chỉ nằm vừa Bỏ bước 1 thì ba bước sau đều sai theo.

Hình 2. Thứ tự kiểm. Ba bước sau chỉ có nghĩa khi bước một đã xong, vì mọi phép so sánh đều dựa trên chiều dài thật của khối xe.

Ô đỗ xe và bề rộng đường nội bộ

Đây là phần bị ràng buộc bởi văn bản pháp lý chứ không phải bởi thẩm mỹ. Kích thước ô đỗ, bề rộng lối đi trong bãi, số chỗ đỗ tối thiểu theo diện tích sàn, tất cả đều do quy chuẩn quy hoạch xây dựng quốc gia và tiêu chuẩn cho từng loại công trình quy định. Địa phương còn có thể đặt thêm yêu cầu riêng. Trước khi chốt mặt bằng, hãy tra bản văn bản đang hiệu lực tại thời điểm bạn làm hồ sơ, đừng tin số cũ trong bản vẽ mẫu.

Các con số dưới đây là mức thường gặp trong thực hành thiết kế, dùng để ướm bố cục ở bước phác thảo. Chúng không thay được văn bản quy phạm.

Kiểu đỗÔ đỗ xe conLối đi trong bãiNhận xét
Vuông góc 90 độRộng 2,50 m, sâu 5,00 m6,00 m cho hai chiềuTốn ít diện tích trên mỗi chỗ đỗ nhất, nhưng cần lối đi rộng
Chéo 60 độRộng 2,50 mHẹp hơn kiểu 90 độ, thường tổ chức một chiềuDễ lùi vào, đổi lại tốn diện tích hơn cho mỗi chỗ
Chéo 45 độRộng 2,50 mHẹp nhất trong ba kiểu, bắt buộc một chiềuHợp với bãi hẹp và dài, hao diện tích nhiều nhất
Song song dọc đườngRộng 2,25 – 2,50 m, dài 6,00 – 6,50 mTheo bề rộng làn đườngPhải chừa thêm chiều dài để xe tiến lùi khi cắt vào

Hai điều hay bị bỏ sót. Thứ nhất là ô đỗ sát tường hoặc sát cột phải rộng thêm, vì không mở được hết cánh cửa. Thứ hai là chỗ đỗ dành cho người khuyết tật cần bề rộng lớn hơn ô thường và cần vệt tiếp cận nối thẳng ra lối đi bộ. Bãi ngoài trời còn cần đèn chiếu sáng, block lấy ở thư viện cad đèn sân vườn.

Bán kính quay vòng, chỗ mặt bằng bãi xe hay hỏng nhất

Lỗi kinh điển là xếp xe kín bãi rồi nộp bản vẽ. Trên giấy chiếc nào cũng nằm gọn trong ô của nó. Ra công trường thì xe ở góc trong cùng không tài nào lùi ra được, vì lối đi không đủ cho một vòng đánh lái.

Nguyên nhân nằm ở bản chất của khối xe. Nó là một hình phẳng đứng yên, cho bạn biết chiếc xe chiếm bao nhiêu chỗ khi đã đỗ xong. Nó không cho biết chiếc xe quét qua vùng nào trong lúc quay. Vùng quét đó rộng hơn thân xe khá nhiều, và mở về phía đầu xe khi bánh trước đánh hết lái.

Khối xe không phải vệt quét Khối cho bạn Hình phẳng đứng yên, đúng cỡ chiếc xe Thứ còn thiếu Vùng xe quét qua khi đánh hết lái Cách dựng vệt quét bằng tay Vẽ cung quay, sao chép khối xe dọc cung đó, mỗi mười độ một chiếc, rồi nhìn bao hình Lấy bán kính ở đâu Thông số của đúng mẫu xe bạn giả định Xe nằm vừa ô đỗ chưa có nghĩa là xe vào được.

Hình 3. Khối xe chỉ mô tả trạng thái đã đỗ. Muốn biết xe vào ra được hay không thì phải dựng thêm vùng quét, và AutoCAD trần vẫn làm được bằng cách sao chép khối theo cung quay.

Nhà sản xuất thường công bố bán kính quay vòng nhỏ nhất cho từng mẫu. Xe con hạng B thường quanh 5 mét, xe bảy chỗ nhỉnh hơn, bán tải lớn hơn nữa. Hãy lấy số của đúng mẫu xe bạn giả định cho công trình, đừng lấy số của chiếc nhỏ nhất rồi kết luận bãi đủ rộng. Với đường dốc xuống tầng hầm, ngoài bán kính còn phải kiểm độ dốc và chiều cao thông thuỷ.

Ký hiệu mặt bằng khác hẳn hình chiếu đứng

Gói này có cả hai loại và trộn lẫn nhau, nên phải xem trước khi chèn. Nhóm tên bắt đầu bằng mb là hình nhìn từ trên xuống, chỉ thấy nóc xe, gương và đường bao thân. Đó là thứ đặt lên mặt bằng tầng trệt, mặt bằng sân, mặt bằng tổng thể. Cây trên cùng mặt bằng đó lấy ở thư viện cây autocad. Nhóm md và mt là hình nhìn ngang, dùng cho mặt đứng, mặt cắt và bản vẽ phối cảnh dựng theo hình chiếu.

Lấy nhầm hình nhìn ngang rồi đặt nằm ngang trên mặt bằng là lỗi rất hay gặp. Nhìn thoáng qua thì giống, nhưng chiều rộng sai hoàn toàn, vì hình nhìn ngang cho bạn chiều cao xe chứ không phải chiều rộng xe. Bãi bố trí theo đó sẽ thiếu chỗ khi thi công. Cách kiểm nhanh: nếu hình có bánh xe tròn và cửa kính bên hông thì đó là hình nhìn ngang.

Hình nhìn ngang một mẫu xe con trong thư viện

Hình 4. Một khối thuộc nhóm nhìn ngang. Thấy bánh xe tròn và cửa kính bên hông thì biết ngay đây không phải hình dùng cho mặt bằng.

Chèn nhiều xe mà bản vẽ không ì

Vài khối trong gói được vẽ rất chi tiết, tới từng nan hoa bánh xe và đường gân trên nắp ca pô. Đẹp khi phóng to, nhưng nhân lên bốn mươi chiếc trên mặt bằng tổng thể thì bản vẽ ì hẳn, và in ra ở tỉ lệ nhỏ chỉ thành một mảng đen.

Khối xe thể thao vẽ rất chi tiết trong gói

Hình 5. Mức chi tiết cao nhất trong gói. Chừng này nét là quá nhiều cho một mặt bằng tỉ lệ một phần hai trăm, và cũng là thủ phạm chính làm tệp nặng.

Bốn cách xử lý theo thứ tự nên thử. Một, chọn mức chi tiết hợp với tỉ lệ in, mặt bằng tổng thể chỉ cần đường bao xe. Hai, luôn chèn bằng khối chứ đừng dán nét rời, vì bản vẽ chỉ lưu một định nghĩa cho mọi lần chèn. Ba, mở Block Editor bằng lệnh BEDIT rồi xoá bớt nét thừa bên trong, sửa một lần thì mọi chiếc đổi theo. Bốn, chạy OVERKILL để dọn nét trùng và PURGE để bỏ lớp rỗng, sau đó AUDIT cho chắc.

Phần dọn lớp thừa và ba cách chèn khối vào bản vẽ đã nói kỹ trong bài về thư viện xe máy, cách làm với xe ô tô không khác gì. Ở đây chỉ nói thêm phần riêng của xe bốn bánh.

Nếu bản vẽ đã quá nặng, có thể tách toàn bộ khu để xe ra một tệp riêng rồi tham chiếu ngoài bằng XREF. Lúc in mặt bằng kiến trúc thì tắt tham chiếu đó đi. Cách này còn tiện khi nhiều người cùng làm, vì phần bãi xe không đụng vào tệp chính.

Lỗi thường gặp

Hiện tượngVì saoCách xử lý
Chèn xe vào thấy dài bằng cả căn nhà, hoặc bé như viên gạchTệp ghi INSUNITS bằng 0 nên AutoCAD không quy đổi đơn vịĐo bằng DIST rồi phóng bằng SCALE với tuỳ chọn Reference
Trên bản vẽ xe nằm vừa ô đỗ, ngoài công trường không lùi ra đượcMới kiểm hình đứng yên, chưa kiểm vùng quét khi quaySao chép khối theo cung quay để dựng vệt quét như hình 3
Xe trên mặt bằng nhìn dẹt và sai chiều rộngLấy nhầm khối nhóm nhìn ngang đặt lên mặt bằngĐổi sang nhóm tên bắt đầu bằng mb, xem trước bằng ADCENTER
Bảng Layer mọc thêm OTO:, CAY:, Cao trinh, AVE_RENDERLớp của bản vẽ gốc đi theo khối sang bản vẽ mớiChèn qua một tệp nháp, gán về lớp của bạn rồi mới mang sang
Mặt bằng tổng thể mở và xoay rất chậm sau khi thêm xeKhối vẽ chi tiết tới nan hoa, nhân lên vài chục lầnDùng khối đơn giản, hoặc xoá bớt nét trong Block Editor
Chọn vào xe thấy mũi tên kéo giãn, kéo thử thì xe méoĐó là khối động có tham số Linear hoặc PolarĐừng kéo mũi tên, muốn đổi cỡ thì dùng SCALE cho cả khối

Câu hỏi thường gặp về thư viện CAD xe ô tô

Gói này có xe đời mới không?

Không nhiều. Đọc tên khối và nhìn hình thì thấy khá nhiều mẫu thuộc thập niên 1980 và 1990, có cả một chiếc thể thao mui kín và một chiếc mang tên NISSAN 200SX. Với mặt bằng tỉ lệ nhỏ thì không ai nhận ra đời xe. Với phối cảnh cận cảnh hoặc mặt đứng cửa hàng ô tô thì nên tìm mẫu mới hơn, vì hình dáng xe hiện nay cao và bè hơn hẳn.

AutoCAD LT hoặc phần mềm CAD khác mở được không?

Được. Đây là khối hai chiều thông thường, không dùng lisp, không cần Express Tools. Tệp ghi ở định dạng AutoCAD 2013 nên mọi bản AutoCAD từ 2013 trở đi đều mở thẳng. Phần mềm đọc DWG khác cũng chèn được, chỉ có phần khối động là có thể hiển thị khác đôi chút.

Vẽ mặt bằng bãi đỗ thì lấy nhóm khối nào?

Lấy nhóm tên bắt đầu bằng mb. Chọn hai hoặc ba chiếc vừa ý, đặt lại tên cho dễ nhớ, gom vào một tệp thư viện riêng của bạn rồi dùng lại về sau. Đừng chèn cả tệp gốc vào bản vẽ chính, vì như vậy kéo theo toàn bộ lớp thừa và các khối bạn không dùng tới.

Có bắt buộc vẽ xe đúng tỉ lệ không, hay vẽ cho đẹp là đủ?

Bắt buộc. Xe trên mặt bằng không phải hình trang trí mà là căn cứ để người thẩm định đếm chỗ đỗ và đo lối đi. Sai tỉ lệ thì cả phần bố trí giao thông nội bộ mất giá trị. Riêng phối cảnh minh hoạ thì yêu cầu nhẹ hơn, nhưng xe sai cỡ vẫn làm hỏng cảm giác về quy mô công trình.

Dùng khối trong gói cho hồ sơ nộp thầu được không?

Đây là khối sưu tầm, trang chỉ đóng gói lại. Nguồn gốc từng khối không rõ, tệp lại còn mang dấu vết của một bản vẽ kiến trúc khác. Với hồ sơ xin phép hoặc hồ sơ đi thầu, an toàn nhất là coi chúng là hình tham khảo và tự vẽ lại phần nào cần chính xác.