Tài liệu cad

File CAD lam chắn nắng: bản vẽ chi tiết và cách chọn kiểu lam

File CAD lam chắn nắng: một tệp DWG gồm hệ lam ngang, lam đứng, treo nghiêng và vách trượt. Kèm cách chọn kiểu lam theo hướng nhà và mật khẩu giải nén.

  • autocad123.vn
  • 28/08/2023

File CAD lam chắn nắng trên trang này là một tệp DWG duy nhất, nặng khoảng 9,5 MB. Bên trong là bộ bản vẽ chế tạo của một hệ lam nhôm, cùng họ biên dạng với các hệ cửa nhôm định hình: mặt cắt biên dạng thanh, hệ lam ngang, hệ lam đứng, hệ treo nghiêng và hệ vách trượt. Bài giữ nguyên liên kết tải cũ. Phần viết thêm là thứ bản năm 2020 chưa nói. Trong tệp có đúng những gì, một bộ bản vẽ lam đủ thì gồm mấy lớp thông tin, và vì sao hướng nhà lại quyết định bạn chọn lam đứng hay lam ngang.

Tóm tắt. Mật khẩu giải nén: xaydungso.vn. Giải nén ra một tệp n047.Lamchannang.dwg định dạng DWG 2007. Bản vẽ mô tả một dòng sản phẩm lam nhôm có mã hiệu riêng, nên kích thước biên dạng trong đó là của nhà sản xuất đó, không phải chuẩn chung. Dùng nó để học cách bố trí bản vẽ và cách vẽ chi tiết liên kết thì rất hợp. Còn kiểu lam thì chọn theo hướng mặt đứng: hướng nam ưu tiên lam ngang, hướng đông và hướng tây ưu tiên lam đứng.

Lam chắn nắng làm gì cho mặt đứng

Lam chắn nắng là bộ phận che nắng gắn ở phía ngoài mặt đứng. Nó cắt bớt tia mặt trời trước khi tia đó chạm vào kính.

Chặn nhiệt trước lớp kính, không phải sau

Đây là điểm khác nhau giữa lam và rèm. Rèm nằm trong nhà. Khi rèm cản được ánh sáng thì nhiệt đã đi qua kính rồi, và phần lớn nhiệt đó ở lại trong phòng. Lam nằm ngoài kính nên chặn được từ đầu; trên mặt đứng nó làm việc cùng với hệ cửa, phần đó lấy bản vẽ ở thư viện file CAD cửa các loại. Thanh lam có nóng lên thì cũng toả nhiệt ra không khí ngoài trời.

Vẫn còn ánh sáng và tầm nhìn

Một bức tường đặc cũng chặn nắng, nhưng chặn luôn cả sáng và gió. Lam thì để hở giữa các thanh. Ánh sáng khuếch tán vẫn vào, gió vẫn qua, người trong phòng vẫn nhìn ra được. Ngoài ra, nhịp thanh lam là một thủ pháp mặt đứng quen thuộc, dùng để che khối nhà lộn xộn phía sau hoặc để tạo bóng đổ thay đổi theo giờ.

Hướng nhà quyết định lam đứng hay lam ngang

Đây là điểm quan trọng nhất khi chọn kiểu lam, và cũng là chỗ hay bị bỏ qua. Cái quyết định không phải thẩm mỹ, mà là góc cao độ của mặt trời trên mặt đứng đó.

Góc cao độ mặt trời quyết định kiểu lam 1. Hướng nam — cắt đứng Nắng giữa ngày đi xuống dốc. Bóng thanh trên phủ kín khoảng hở phía dưới. Lam ngang che được 2. Hướng tây — cắt đứng Lam ngang không ăn thua Tia luồn qua khe rồi đập thẳng vào kính. 3. Hướng tây — nhìn từ trên xuống Lam đứng chặn được tia đó Tia bị chặn ngay ở thanh lam đứng. Dải ngang là mặt kính nhìn từ trên.

Hình 1. Cùng một mặt kính, cùng một hệ lam, chỉ đổi hướng là kết quả đảo ngược. Ô 1 và ô 2 là mặt cắt đứng, nét chấm là mép bóng đổ. Ô 3 nhìn từ trên xuống.

Hướng nam: nắng dốc, chọn lam ngang

Mặt trời lên cao nhất vào quãng giữa ngày. Lúc đó tia nắng chiếu xuống dốc. Một thanh lam nằm ngang, vươn ra khỏi mặt kính một đoạn không lớn, là đủ để bóng của nó phủ hết khoảng hở xuống tới thanh kế tiếp. Vì vậy mặt đứng hướng nam thường dùng lam ngang, hoặc đơn giản hơn là một tấm ô văng ngang.

Hướng đông và hướng tây: nắng thấp, chọn lam đứng

Mặt trời mọc ở phía đông và lặn ở phía tây với góc cao độ rất nhỏ. Tia nắng lúc đó gần như nằm ngang và đâm thẳng vào mặt đứng. Muốn chặn bằng lam ngang thì thanh phải vươn ra xa đến mức không làm nổi.

Lam đứng thì khác. Thanh dựng đứng chắn theo phương ngang, đúng phương mà tia nắng đang đi tới. Trong thực tế người ta còn xoay thanh lam chếch đi một góc, để cắt hướng nắng gay gắt mà vẫn chừa tầm nhìn về hướng còn lại. Hướng tây là hướng khó nhất, vì nắng chiều đến lúc kết cấu đã tích nhiệt suốt cả ngày.

Hướng bắc ở Việt Nam không hoàn toàn yên tâm

Sách nước ngoài hay nói mặt bắc không cần che. Điều đó đúng với vùng ôn đới, không đúng hẳn với ta. Việt Nam nằm trọn trong vùng nội chí tuyến, vĩ độ khoảng 8 đến 23 độ Bắc. Vào các tháng giữa năm, mặt trời đi qua phía bắc của thiên đỉnh. Nghĩa là mặt đứng hướng bắc vẫn ăn nắng trực tiếp trong một quãng của năm, nhất là sáng sớm và chiều muộn.

Quy tắc trên chỉ dùng để chọn kiểu, không dùng để ra kích thước. Độ vươn của thanh, bước lam và góc nghiêng phải tính từ biểu đồ mặt trời cho đúng vĩ độ công trình, cùng với khoảng giờ mà bạn muốn che. Chép kích thước từ một file mẫu rồi mang sang công trình khác vĩ độ là cách hỏng nhanh nhất.

Trong tệp file CAD lam chắn nắng có những gì

Dưới đây là nội dung đọc trực tiếp từ tệp tải về, kiểm tháng 9 năm 2026. Bản vẽ đặt trong không gian mô hình, chia thành từng khung riêng, mỗi khung là một hệ.

Nhóm bản vẽNội dung
Mặt cắt biên dạng thanhHai họ biên dạng nhôm: dạng ovan thuôn nhọn và dạng hộp chữ nhật, kèm bảng kích thước từng cỡ
Hệ lam ngangThanh nằm ngang gác lên kết cấu đỡ, có hình phối cảnh và chi tiết đầu thanh
Hệ lam đứngThanh dựng đứng bắt vào thanh ngang, ghi giới hạn chiều dài thanh
Hệ treo nghiêngThanh gác nghiêng một góc, treo vào kết cấu phía trên
Hệ lam ngang có và không có đỡ giữaHai phương án khung cho cùng một mảng lam, khác nhau ở nhịp
Hệ vách trượtCánh lam lắp trong khung, trượt trên ray trên và ray dưới
Chi tiết bộ phậnTấm bịt đầu thanh, khung đỡ lam, vít tự khoan, mặt cắt khung ở tỉ lệ lớn
Cụm hệ trầnMột cụm bản vẽ trần nhôm nằm cùng tệp, không thuộc chủ đề bài này

Toàn cảnh file CAD lam chắn nắng gồm cụm hệ trần và cụm hệ lam

Hình 2. Toàn cảnh tệp DWG. Nửa trên là cụm hệ trần, thuộc về hồ sơ trần chứ không phải hồ sơ lam; nửa dưới mới là cụm hệ lam chắn nắng. Mỗi ô là một khung bản vẽ riêng.

Mặt cắt biên dạng ovan, hệ lam ngang và hệ lam đứng trong file CAD lam chắn nắng

Hình 3. Một khung điển hình. Góc trên trái là mặt cắt biên dạng thanh. Hai ô bên phải là hệ lam ngang và hệ lam đứng của cùng biên dạng đó. Góc dưới trái là bảng kích thước từng cỡ thanh, ô dưới phải là hệ treo nghiêng.

Một bộ bản vẽ chi tiết lam chắn nắng gồm những gì

Bộ bản vẽ trong tệp này bố trí theo đúng thói quen của bản vẽ chế tạo. Bốn lớp thông tin dưới đây là thứ hồ sơ nào cũng phải có, dù bạn vẽ lam nhôm, lam bê tông hay lam gỗ.

Bốn lớp thông tin phải có 1 Mặt đứng toàn hệ Phạm vi che, bước lam, cao độ 2 Mặt cắt qua hệ Biên dạng, góc nghiêng, độ vươn 3 Chi tiết liên kết Khung đỡ, vít, tấm bịt đầu thanh 4 Ghi chú vật liệu Hợp kim, lớp phủ, dung sai

Hình 4. Thiếu lớp nào thì bên gia công sẽ phải hỏi lại lớp đó. Lớp 3 là lớp hay bị bỏ sót nhất.

Mặt đứng toàn hệ

Đây là bản vẽ để hình dung. Nó cho biết mảng lam phủ tới đâu trên mặt đứng, thanh chạy theo phương nào, bước lam là bao nhiêu, và cao độ đầu với chân hệ nằm ở đâu. Vị trí các khung đỡ cũng thể hiện ở đây.

Mặt cắt qua hệ

Bản vẽ này trả lời phần kỹ thuật. Biên dạng thanh ra sao, thanh nghiêng bao nhiêu độ, khoảng hở giữa hai thanh là bao nhiêu, và cả hệ vươn ra khỏi mặt kính bao xa. Người kiểm hiệu quả che nắng đọc bản vẽ này trước.

Chi tiết liên kết

Phần bị bỏ sót nhiều nhất. Thanh lam bắt vào khung đỡ bằng gì, khung đỡ neo vào kết cấu chính ra sao, đầu thanh bịt bằng chi tiết nào. Hình vít và bu lông để vẽ mấy chỗ đó lấy trong tổng hợp file CAD ốc vít. Trong tệp này các bản vẽ đều ghi chú kết cấu đỡ là phần phải tính riêng, còn khoảng cách giữa hai khung đỡ thì có ghi trị số khống chế. Đó là cách ghi đúng: người vẽ chi tiết không quyết thay người tính kết cấu.

Ghi chú vật liệu và hoàn thiện

Mác hợp kim, độ dày thành thanh, lớp phủ bề mặt, màu, dung sai lắp dựng. Với hệ đặt ngoài trời còn phải nói rõ cách xử lý chỗ hai kim loại khác nhau tiếp xúc, và cách để nước mưa thoát khỏi thanh.

Vật liệu thường dùng cho lam chắn nắng

Nhôm định hình và nhôm đúc

Đây là vật liệu hay gặp nhất cho hệ lam mặt đứng hiện nay, và cũng là vật liệu của tệp bạn sắp tải. Thanh nhôm nhẹ nên nhịp lớn mà khung đỡ vẫn gọn. Nhôm không gỉ, hoàn thiện bằng anod hoá hoặc sơn phủ ngoài trời thì bền màu lâu.

Nhược điểm nằm ở giãn nở nhiệt. Thanh nhôm dài phơi nắng sẽ dãn ra đáng kể, nên bản vẽ phải chừa khe co giãn và lỗ bắt vít dạng rãnh. Bắt cứng cả hai đầu là thanh sẽ cong.

Bê tông

Lam bê tông là cách làm truyền thống của kiến trúc nhiệt đới, đổ tại chỗ hoặc đúc sẵn. Ưu điểm là bền, khối tích lớn nên bóng đổ dày và sâu, gần như không phải bảo trì bề mặt.

Đổi lại, nó nặng. Kết cấu đỡ và neo phải tính hẳn hoi chứ không thể làm theo mẫu. Mặt trên của thanh dễ đọng bụi và rêu, nên khi vẽ chi tiết phải cho mặt trên hơi dốc và có gờ nhỏ hắt nước. Sửa chữa về sau cũng khó hơn hẳn hệ nhôm.

Gỗ nhựa và gỗ tự nhiên

Gỗ nhựa cho cảm giác ấm của vân gỗ mà không lo mối mọt. Giá thường thấp hơn nhôm. Nhược điểm là thanh giãn nở theo nhiệt độ khá nhiều và dễ võng, nên nhịp phải chia ngắn, thanh dài thì cần lõi kim loại. Màu cũng nhạt dần dưới nắng.

Gỗ tự nhiên đẹp nhất trong ba loại, nhưng chỉ nên dùng nhóm gỗ chịu được ngoài trời, và phải chấp nhận bảo dưỡng định kỳ. Ngoài ba nhóm này còn gặp thép sơn, tấm nhôm composite, gốm terracotta và kính in mờ.

Tải file CAD lam chắn nắng

Tải về

File CAD lam chắn nắng — bản vẽ chi tiết hệ lam nhôm

Một tệp DWG gồm mặt cắt biên dạng, hệ lam ngang, hệ lam đứng, hệ treo nghiêng, hệ vách trượt và chi tiết liên kết. Kèm một cụm bản vẽ hệ trần nhôm.

  • Định dạng DWG 2007
  • Dung lượng 8,2 MB khi tải, 9,5 MB sau khi giải nén
  • Số tệp 1 tệp DWG
Tải bộ bản vẽ

Mật khẩu giải nén: xaydungso.vn (viết thường).

Mật khẩu không dùng chung cho mọi gói tải của trang, mỗi gói một mật khẩu riêng. Đừng lấy mật khẩu của bài khác mang sang đây rồi tưởng tệp hỏng.

Hai chỗ dễ vấp khi mở tệp

Phông chữ tiếng Việt đời cũ

Tệp gọi tên chín phông chữ. Ngoài txt.shx, romans.shxarial.ttf quen thuộc, còn có vns.shx, vnsimli.shx, chhbg.shx, VHTIME.TTF, VHAVAN_0.TTFGOTHICB_0.TTF. Trong đó vns.shx, vnsimli.shx, chhbg.shx, VHTIME.TTFVHAVAN_0.TTF là phông tiếng Việt đời trước Unicode, nay không đi kèm AutoCAD hay Windows nữa.

Nếu máy bạn không có sẵn những phông đó, AutoCAD sẽ hỏi phông thay thế khi mở, và phần chữ tiếng Việt có thể hiện sai dấu; cách xử lý nằm ở bài sửa lỗi font trong AutoCAD. Chữ trên bản vẽ vẫn đọc hiểu được, nhưng nếu bạn định giữ lại phần ghi chú thì nên gõ lại bằng phông Unicode của mình. Đừng đem cả bảng kiểu chữ đó sang bản vẽ đang làm.

Kích thước trong bản vẽ là của một dòng sản phẩm

Các biên dạng thanh trong tệp đều mang mã hiệu riêng của nhà sản xuất. Nghĩa là bề rộng, chiều cao và bề dày thành thanh là thông số của dòng sản phẩm đó, không phải kích thước chuẩn nào cả.

Cách dùng đúng là lấy tệp này làm mẫu bố cục và mẫu cách vẽ chi tiết, rồi thay biên dạng bằng biên dạng thật của nhà cung cấp mà công trình sẽ mua. Bản vẽ tự nó cũng ghi rõ kết cấu đỡ là phần phải tính và kích thước tuỳ theo công trình. Người vẽ gốc không có ý cho ai dùng thẳng.