Lệnh Tolerance trong AutoCAD tạo ra khung dung sai hình học — cái khung chữ nhật chia ô mà bản vẽ cơ khí nào cũng có. Nó không dùng để ghi sai lệch kiểu ±0,2 cho một con số kích thước. Hai việc đó nằm ở hai chỗ khác hẳn nhau, và đây là chỗ nhầm nhiều nhất.
Tóm tắt. Gõ TOLERANCE hoặc TOL là hộp thoại Geometric Tolerance mở ra. Chọn ký hiệu ở ô Sym, gõ trị số vào Tolerance 1, gõ chuẩn vào Datum 1. Bấm OK rồi chỉ điểm đặt. Hộp thoại không có ô nào để nhập cỡ khung — khung to nhỏ theo DIMTXT và DIMSCALE của kiểu kích thước hiện hành, nên phải đặt hai biến đó trước khi gọi lệnh. Muốn ghi sai lệch ±0,2 cho một kích thước thì dùng Dimension Style chứ không dùng lệnh này.
Lệnh Tolerance trong AutoCAD dùng vào việc gì
Tiếng Việt gọi chung là "dung sai". Nhưng AutoCAD có hai thứ dung sai tách biệt hẳn, đặt ở hai chỗ khác nhau. Chỉ một trong hai thuộc về lệnh này.
Dung sai kích thước: việc của Dimension Style
Đây là loại dung sai bám vào con số: 40 ±0,2, hoặc 40 +0,3−0,1. Nó là một phần của đường kích thước, hiện ngay cạnh chữ số, và tự đổi khi kích thước đổi. Chỗ bật nó lên là thẻ Tolerances trong hộp thoại Dimension Style, hoặc bộ biến DIMTOL, DIMTP, DIMTM, DIMTDEC. Nếu bạn đang cần thứ này thì đọc bài chỉnh kích thước số dim bằng DIMSTYLE chứ đừng gọi lệnh Tolerance.
Dung sai hình học: việc của lệnh Tolerance
Loại thứ hai không nói về con số nào cả. Nó nói mặt phẳng đó phải phẳng đến mức nào, lỗ đó phải nằm đúng vị trí đến mức nào, trục đó có được nghiêng so với chuẩn A hay không. Đó là dung sai hình học, ghi bằng một khung chữ nhật chia ô đặt cạnh chi tiết. Lệnh Tolerance sinh ra đúng cái khung đó. AutoCAD gọi tên nội bộ của nó là feature control frame. Mỗi khung là một đối tượng duy nhất, không phải một mớ đường thẳng ghép lại.
Hình 1. Chọn nhầm nhánh là mất buổi chiều. Nhánh trái nằm trong kiểu kích thước, nhánh phải mới là lệnh Tolerance.
Ba cách gọi lệnh trên AutoCAD 2026
Cách nhanh nhất vẫn là gõ. Tệp acad.pgp của bản 2026 ghi TOL là bí danh của TOLERANCE. Đừng gõ T — bí danh đó thuộc về MTEXT.
| Cách gọi | Thao tác | Ghi chú |
|---|---|---|
| Dòng lệnh | TOLERANCE hoặc TOL | Nhanh nhất |
| Ribbon | Thẻ Annotate › bảng Dimensions › bấm tên bảng cho bung xuống › nút Tolerance | Nút chỉ có biểu tượng, không có chữ; phím gợi ý là TO |
| Thanh trình đơn | Dimension › Tolerance… | Bản 2026 để MENUBAR = 0 nên thanh này bị ẩn; đặt MENUBAR = 1 mới thấy |
Hình 2. Bảng Dimensions ở thẻ Annotate. Nút Tolerance không nằm ở hàng ngoài mà nằm trong phần bung ra: bấm vào chữ "Dimensions" có mũi tên ở chân bảng thì nó mới hiện.
Không có bản dòng lệnh. Nhiều lệnh AutoCAD có anh em thêm dấu gạch nối phía trước để bỏ hộp thoại và hỏi thẳng trên dòng lệnh. Lệnh này thì không: gõ -TOLERANCE, AutoCAD trả lời Unknown command "-TOLERANCE". Muốn đặt khung dung sai bằng script hay bằng LISP thì phải dựng đối tượng qua ActiveX chứ không gửi lệnh được.
Đọc hộp thoại Geometric Tolerance
Hộp thoại này giữ nguyên bố cục từ đời AutoCAD cũ, chỉ khoác lớp áo mới của bản 2026. Nhìn thoáng qua thì rối vì có mười mấy ô vuông đen, nhưng thật ra chỉ có bốn nhóm.
Hình 3. Hộp thoại Geometric Tolerance của AutoCAD 2026, đã điền: ký hiệu vị trí ở ô Sym, trị số 0.0035 ở Tolerance 1, chuẩn A ở Datum 1.
Ô Sym và bảng mười bốn ký hiệu
Ô vuông đen dưới chữ Sym là chỗ chọn loại dung sai. Bấm vào đó, một bảng nhỏ tên Symbol hiện ra với lưới 5 cột 3 hàng: mười bốn ký hiệu và một ô trống ở góc dưới bên phải. Ô trống nghĩa là bỏ ký hiệu, dùng khi bạn chỉ cần khung chuẩn.
Hình 4. Bảng Symbol. Thứ tự đọc từ trái sang phải, trên xuống dưới đúng như bảng bên dưới.
| Ô | Ký hiệu chỉ | Tên tiếng Anh | Nhóm |
|---|---|---|---|
| 1 | Vị trí | Position | Vị trí |
| 2 | Độ đồng tâm, đồng trục | Concentricity | Vị trí |
| 3 | Độ đối xứng | Symmetry | Vị trí |
| 4 | Độ song song | Parallelism | Hướng |
| 5 | Độ vuông góc | Perpendicularity | Hướng |
| 6 | Độ nghiêng | Angularity | Hướng |
| 7 | Độ trụ | Cylindricity | Hình dạng |
| 8 | Độ phẳng | Flatness | Hình dạng |
| 9 | Độ tròn | Circularity | Hình dạng |
| 10 | Độ thẳng | Straightness | Hình dạng |
| 11 | Profile mặt | Profile of a surface | Profile |
| 12 | Profile đường | Profile of a line | Profile |
| 13 | Độ đảo hướng kính, mặt đầu | Circular runout | Độ đảo |
| 14 | Độ đảo tổng cộng | Total runout | Độ đảo |
| 15 | Ô trống, không dùng ký hiệu | — | — |
Tolerance 1, Tolerance 2 và hai ô đen kẹp hai bên
Ô trắng ở giữa là nơi gõ trị số. Hai ô đen kẹp hai bên nó không phải trang trí. Ô bên trái thêm ký hiệu đường kính vào trước trị số, dùng khi vùng dung sai là hình trụ. Ô bên phải là chỗ đặt điều kiện vật liệu, ký hiệu đó đứng sau trị số.
Tolerance 2 có đúng ba ô như vậy, dùng cho dung sai kép. Đó là khi một yếu tố vừa bị ràng buộc rộng theo một bộ chuẩn, vừa bị ràng buộc chặt hơn theo bộ chuẩn khác. Bản vẽ thường chỉ dùng hàng thứ nhất. Không chắc thì cứ để trống hàng hai.
Datum 1, Datum 2, Datum 3
Ba nhóm này ghi chuẩn tham chiếu, theo đúng thứ tự ưu tiên: chuẩn chính, chuẩn phụ, chuẩn thứ ba. Mỗi nhóm cũng có một ô đen bên phải, dành cho điều kiện vật liệu của chuẩn đó. Gõ chữ nào vào thì khung hiện đúng chữ ấy, thường là A, B, C.
Height, Projected Tolerance Zone và Datum Identifier
Ba ô này ở nửa dưới hộp thoại và hay bị bỏ qua vì không hiểu tác dụng.
Height là chiều cao vùng dung sai chiếu. Nó dùng cho lỗ ren hoặc lỗ lắp chốt, khi sai lệch phải khống chế cả trên đoạn nhô ra khỏi chi tiết. Ô Projected Tolerance Zone bên cạnh không phải hộp kiểm đánh dấu tích. Bấm vào là nó hiện thẳng ký hiệu chữ P nằm trong vòng tròn.
Bẫy ở cặp ô này. Bật Projected Tolerance Zone thì AutoCAD thêm một ô nữa bên dưới khung chính, chứa chiều cao rồi mới tới ký hiệu P. Nếu bạn bật ô đó mà bỏ trống Height, khung vẫn mọc thêm ô thứ hai — nhưng trong ô chỉ có mỗi ký hiệu P, không có con số nào. Trên bản vẽ nó thành một ô rỗng vô nghĩa, và vì khung nhỏ nên rất dễ lọt qua khâu soát bản vẽ.
Hình 5. Điền Height 14 rồi bật Projected Tolerance Zone: ô vuông chuyển thành ký hiệu chữ P trong vòng tròn.
Datum Identifier thì khác hẳn phần trên. Nó không ghi dung sai mà tạo một ô riêng để đặt tên chuẩn cho chi tiết. Ví dụ một ô chứa chữ A, gắn vào mặt được lấy làm chuẩn A.
Cỡ khung do DIMSCALE quyết định, không có ô nào để nhập
Đặt khung xong, câu hỏi hay gặp nhất là "sao khung bé như hạt gạo". Hoặc ngược lại, khung to bằng nửa bản vẽ. Trong hộp thoại không hề có ô nhập chiều cao chữ hay tỉ lệ, nên nhiều người tìm mãi không thấy.
Khung lấy cỡ từ kiểu kích thước hiện hành. Chiều cao khung bằng hai lần chiều cao chữ kích thước rồi nhân với tỉ lệ chung của kiểu. Với bản vẽ mẫu để nguyên DIMTXT = 0.18, con số ra như sau.
| DIMSCALE lúc đặt khung | Chiều cao khung | Chiều rộng khung mẫu |
|---|---|---|
| 1 | 0,36 đơn vị | 1,74 đơn vị |
| 2 | 0,72 đơn vị | 3,48 đơn vị |
Nghĩa là quy trình đúng ngược với thói quen của nhiều người. Đặt kiểu kích thước và tỉ lệ DIMSCALE cho khớp tỉ lệ tờ vẽ trước, rồi mới gọi lệnh Tolerance. Dùng một kiểu kích thước sẵn có thì kiểm lại thiết lập của kiểu đó một lượt là xong.
Hệ số tỉ lệ được ghi thẳng vào từng khung lúc đặt, nên mỗi khung mang cỡ riêng của nó. Đổi DIMSCALE về sau không kéo những khung đã đặt to nhỏ theo. Muốn sửa thì chọn khung rồi đổi hệ số tỉ lệ của chính nó trong bảng Properties. Chỉ có vài khung thì xoá đi đặt lại còn nhanh hơn.
Hình 6. Khung đặt xong trên bản vẽ: ô ký hiệu, ô trị số 0.0035, ô chuẩn A. Điểm bạn chỉ khi AutoCAD hỏi vị trí nằm ở giữa cạnh trái của khung, không phải góc.
Gắn khung dung sai vào đường dẫn
Khung đứng một mình thì chỉ hợp khi nó nằm sát ngay đường kích thước. Trong hầu hết trường hợp bạn cần một đường dẫn có mũi tên trỏ vào bề mặt rồi khung nằm ở đầu kia. Lệnh LEADER làm được việc này, nhưng tuỳ chọn đó ẩn khá sâu.
Gọi LEADER, chỉ điểm đầu, chỉ điểm thứ hai, rồi nhấn Enter hai lần liên tiếp. Lần Enter thứ nhất kết thúc phần đường dẫn, lần thứ hai bỏ qua dòng chữ chú thích. Lúc đó dòng nhắc mới hiện đủ các lựa chọn:
Enter an annotation option [Tolerance/Copy/Block/None/Mtext]
Gõ T tại dòng này là hộp thoại Geometric Tolerance mở ra. Khung sinh ra sẽ dính luôn vào đầu đường dẫn. Chưa quen thì đọc thêm bài lệnh LEADER và bí danh LE. Bộ ghi chú đời mới nằm ở bài lệnh Multileader Style, và bộ đó dùng kiểu ghi chú riêng, không đi qua đường này.
Bốn chỗ hay vấp với lệnh Tolerance trong AutoCAD
Không phá được khung thành từng nét
Khung dung sai là một đối tượng nguyên khối. Chọn nó rồi gọi lệnh phá khối EXPLODE, AutoCAD từ chối thẳng bằng dòng Cannot explode TOLERANCE. Muốn có một khung "sửa tay được" thì phải tự vẽ bằng đường thẳng và chữ, chấp nhận mất tính chất tự động của nó.
Ký hiệu biến thành ô vuông hoặc dấu hỏi
Ký hiệu trong khung không phải chữ thường mà là ký tự của phông gdt.shx đi kèm AutoCAD. Bản vẽ mang sang máy khác mà thiếu phông này thì phần ký hiệu hỏng, còn trị số và chữ chuẩn vẫn nguyên. Gặp khung mất ký hiệu, việc đầu tiên là chép gdt.shx vào thư mục phông chứ đừng vội gõ lại.
Sửa lại khung đã đặt
Nháy đúp vào khung là hộp thoại mở lại với đúng nội dung cũ, sửa xong bấm OK là khung cập nhật tại chỗ. Trên bản 2026, thao tác nháy đúp này chạy lệnh TEXTEDIT; tên cũ DDEDIT vẫn gõ được nhưng chỉ là lối tắt dẫn về TEXTEDIT. Cách dùng chi tiết nằm ở bài lệnh DDEDIT hiệu chỉnh chữ và kích thước.
Ghi đủ nhưng thiếu chuẩn
Một khung ghi độ song song hay độ vuông góc mà bỏ trống hết phần Datum là khung vô nghĩa. Song song với cái gì, vuông góc với cái gì? Nhóm dung sai hình dạng trong bảng trên gồm độ thẳng, độ phẳng, độ tròn và độ trụ. Bốn loại này không cần chuẩn. Các nhóm còn lại gần như luôn phải có ít nhất một chuẩn.
Hình 7. Bản đồ các ô của một khung dung sai. Ô số 4 chỉ xuất hiện khi bạn bật Projected Tolerance Zone.
Trình tự làm cho gọn
Gom lại thành một mạch để lần sau khỏi mò. Đặt kiểu kích thước cho đúng tỉ lệ tờ vẽ trước đã. Gõ TOL, chọn ký hiệu ở ô Sym, gõ trị số vào Tolerance 1. Thêm chuẩn vào Datum 1 nếu loại dung sai đó cần chuẩn. Bấm OK rồi chỉ điểm đặt. Cần đường dẫn có mũi tên thì đi bằng LEADER và chọn nhánh Tolerance. Sai chỗ nào thì nháy đúp vào khung sửa lại, đừng xoá đi làm lại từ đầu.














