Bản vẽ cad nhà thép tiền chế chia sẻ trong bài này là hồ sơ một nhà xưởng có thật, đặt tên là xưởng F1. Mọi con số dưới đây ghi đúng theo nội dung các tệp trong gói.
Tóm tắt. Gói tải nặng 4.556.202 byte. Bên trong đúng ba tệp DWG của cùng một công trình: bê tông cốt thép, kết cấu thép và kiến trúc. Gói không mã hoá, giải nén thẳng, không cần mật khẩu. Cả ba tệp ghi ở định dạng DWG 2007. Công trình là nhà xưởng khung thép nhịp 32 m, bốn trục cột A đến D, có sàn lửng ở cao độ +5,600 và đỉnh mái +14,700.
Gói bản vẽ cad nhà thép tiền chế có đúng ba tệp DWG
Bài cũ nói bộ hồ sơ gồm ba bản vẽ. Điều đó đúng. Tên tệp bên trong gói xác nhận rõ ràng, và tên tệp cũng cho biết cả ba thuộc về cùng một công trình mang mã F1.
| Tệp | Dung lượng | Định dạng | Nội dung |
|---|---|---|---|
XUONG F1 (BTCT).dwg | 573.824 byte | DWG 2007 | Kết cấu bê tông cốt thép: móng, đà kiềng, sàn |
XUONG F1 (KC THEP).dwg | 3.786.048 byte | DWG 2007 | Kết cấu thép: khung ngang, xà gồ, giằng, chi tiết liên kết |
XUONG F1 (KT-01).dwg | 605.248 byte | DWG 2007 | Kiến trúc: mặt bằng, mặt đứng bốn phía, mặt bằng mái |
| Tổng sau giải nén | 4.965.120 byte, khoảng 4,73 MB | ||
Tệp kết cấu thép nặng gấp sáu lần hai tệp còn lại. Đó là dấu hiệu quen thuộc của hồ sơ thép: phần lớn dung lượng nằm ở các bản vẽ chi tiết liên kết và bảng thống kê cấu kiện. Ba tệp đóng gói ngày 10 tháng 6 năm 2017. Bộ này không kèm phần biện pháp thi công; ai cần thì xem file cad biện pháp thi công nhà kết cấu thép.
Gói này không có mật khẩu giải nén
Nhiều bộ bản vẽ trên mạng bị khoá bằng mật khẩu, còn gói này thì không. Không tệp nào bên trong bị mã hoá. Cứ bấm giải nén thẳng bằng WinRAR hoặc 7-Zip, không phải nhập gì cả, ba tệp DWG hiện ra ngay.
Tải bộ hồ sơ nhà xưởng F1
Hồ sơ nhà xưởng thép tiền chế F1 — 3 tệp DWG
Trọn bộ ba tập bản vẽ của một nhà xưởng khung thép nhịp 32 m: bê tông cốt thép, kết cấu thép và kiến trúc.
- Định dạng RAR, bên trong là DWG 2007
- Dung lượng 4.556.202 byte, khoảng 4,34 MB
- Số tệp 3 tệp DWG, tổng 4,73 MB sau giải nén
Gói không mã hoá, giải nén thẳng, không cần nhập mật khẩu.

Hình 1. Toàn cảnh tệp bê tông cốt thép khi mở ra. Tờ bìa nằm riêng một khung, năm khung còn lại là các tờ móng, đà kiềng và chi tiết.
Nhà xưởng F1 là công trình thế nào
Phần này đọc từ tờ khung ngang K1, tờ quan trọng nhất của hồ sơ thép. Ai định dùng lại bộ hồ sơ đều nên xem tờ này trước để biết công trình có hợp với việc của mình không. Ai chưa quen đọc bản vẽ kết cấu thép nên xem qua trọn bộ bài giảng và giáo trình kết cấu thép.
Khung ngang K1 nhịp 32 m, có sàn lửng
Khung ngang chia làm ba nhịp theo bốn trục cột A, B, C và D. Hai nhịp biên rộng 11 m, nhịp giữa 10 m, cộng lại đúng 32 m. Cao độ ghi trên bản vẽ có năm mức: mặt nền 0,000, sàn lửng +5,600, đầu cột biên +9,395, rồi +13,500 và đỉnh +14,700.
Đây không phải nhà xưởng một tầng trống. Cao độ +5,600 là một sàn lửng chạy suốt bề rộng nhà, đỡ bằng hệ dầm thép. Hai cột giữa ở trục B và C chỉ vươn tới sàn lửng rồi dừng lại. Từ sàn lửng lên mái chỉ còn hai cột biên và cặp kèo vát vượt hết 32 m.
Hình 2. Sơ đồ khung K1 vẽ lại từ bản vẽ gốc, giữ đúng nhịp và các cao độ chính. Nét đậm màu sẫm là hai cột biên và cặp kèo mái, nét xanh là sàn lửng cùng hai cột giữa.

Hình 3. Tờ khung K1 trong tệp kết cấu thép. Đọc được cao độ ở cột bên trái, nhịp ở dãy kích thước dưới cùng, tiết diện ghi kèm đường dẫn và các ký hiệu chi tiết liên kết CT1 đến CT7.
Tiết diện thép và khối lượng mét dài
Toàn bộ cấu kiện chính là thép tổ hợp hàn, không dùng thép hình cán sẵn. Ký hiệu đọc theo thứ tự chiều cao, bề rộng cánh, bề dày bụng, bề dày cánh. Dấu ngã giữa hai số chiều cao nghĩa là bụng vát, chiều cao đổi dần dọc theo cấu kiện. Công trình nào dùng thép hình cán sẵn thì lấy tiết diện trong thư viện thép hình cho nhanh.
Cột khối lượng dưới đây không có trên bản vẽ. Nó tính từ tiết diện ghi trên bản vẽ, lấy khối lượng riêng của thép là 7.850 kg trên mét khối. Con số này đủ dùng để ước lượng nhanh, còn thống kê chính xác vẫn phải lấy từ bảng cấu kiện trong tệp. Bóc khối lượng cho cả bản vẽ thì có sẵn mấy lệnh CAD hữu ích cho việc bóc khối lượng.
| Cấu kiện | Tiết diện ghi trên bản vẽ | Khối lượng ước tính |
|---|---|---|
| Cột biên, trục A và D | I-500×250×10×12 | 84,5 kg/m |
| Cột giữa, trục B và C | I-400×250×8×12 | 70,7 kg/m |
| Kèo đoạn chân, bụng vát | I-(500~650)×215×6×10 | 56,4 đến 63,4 kg/m |
| Kèo đoạn lên đỉnh, bụng vát | I-(650~350)×215×6×8 | 42,7 đến 56,9 kg/m |
| Thanh gần đỉnh mái | I-350×215×5×8 | 40,1 kg/m |
| Dầm sàn lửng, bụng vát | I-(600~900)×250×10×12 | 92,3 đến 115,9 kg/m |
| Dầm sàn lửng, tiết diện đều | I-600×250×10×12 | 92,3 kg/m |
| Dầm sàn lửng, cánh mỏng hơn | I-600×250×8×10 | 75,7 kg/m |
Chỗ kèo dày nhất là 650 mm, nằm ở góc nối với cột. Càng ra giữa nhịp kèo càng mỏng dần, xuống còn 350 mm. Đó là cách làm chuẩn của khung thép nhẹ, dồn vật liệu vào nơi mô men lớn nhất.
Phần bê tông cốt thép và phần kiến trúc
Tệp bê tông cốt thép lo phần dưới đất. Trong đó có mặt bằng móng, mặt bằng đà kiềng và các mặt cắt đà kiềng tỷ lệ 1:10. Hai loại đà kiềng chính là DK1 tiết diện 600×300 và DK2 tiết diện 400×200, mỗi loại có hai phương án bố trí thép. Cuối hàng còn một chi tiết khe co giãn ký hiệu DK3. Các mặt cắt này tô ký hiệu vật liệu bằng hatch; thiếu mẫu thì lấy ở thư viện hatch cho autocad.

Hình 4. Mặt bằng móng ở trên, mặt bằng đà kiềng ở dưới, dãy mặt cắt đà kiềng DK1, DK2 và chi tiết khe co giãn DK3 ở hàng cuối.
Tệp kiến trúc có bốn mặt đứng: hai mặt đầu hồi theo trục A đến D và hai mặt bên theo trục 1 đến 19, cộng thêm mặt bằng mái. Trên mặt đứng thấy rõ hai hàng cửa sổ chồng nhau, khớp với việc công trình có sàn lửng. Lưới trục 19 hàng cho biết nhà dài đáng kể theo phương dọc.

Hình 5. Tệp kiến trúc: bốn mặt đứng ở trên, mặt bằng mái ở dưới. Hai hàng cửa sổ trên mặt đứng ứng với tầng trệt và sàn lửng.
Mở bộ bản vẽ trên AutoCAD 2026 cho đúng
Cả ba tệp ghi ở định dạng DWG 2007. Hai tệp bê tông cốt thép và kết cấu thép lưu lần cuối bằng AutoCAD 2012, tệp kiến trúc lưu bằng chính AutoCAD 2007. Tệp kết cấu thép còn giữ ngày tạo bản vẽ gốc là 25 tháng 7 năm 2003, và mốc thời gian muộn nhất ghi trong tệp là tháng 9 năm 2014.
Định dạng cũ không phải vấn đề. Autodesk nói rõ bản mới luôn mở được mọi định dạng DWG đời trước, nên AutoCAD 2026 mở ba tệp này bình thường. Chiều ngược lại mới kẹt: lưu bằng 2026 rồi gửi cho máy chạy bản cũ thì phải chọn lại định dạng khi lưu.
Chữ tiếng Việt hiện sai là do phông, không phải do tệp hỏng
Đây là chỗ hay làm người tải hoang mang. Quét bảng phông trong ba tệp thấy chúng gọi năm phông TrueType họ chữ V đời cũ: VAVON, VHELVEB, VHELVEN, VHELVCN và VTIMESN. Đó là bộ phông tiếng Việt bảng mã cũ, không có sẵn trong Windows.
Các phông SHX mà bản vẽ gọi thì ngược lại, đều có sẵn: romans, txt, simplex, bigfont, ltypeshp và @extfont2 đều nằm trong thư mục phông của AutoCAD 2026. Vì vậy bạn sẽ không gặp hộp thoại báo thiếu tệp SHX.
Vấn đề nằm ở nhóm TrueType, và cách xử lý của phần mềm khác hẳn nhóm SHX. Tài liệu Autodesk mô tả hai đường đi riêng.
Hình 6. Hai đường thay phông theo tài liệu Autodesk 2026. Bản vẽ này chỉ thiếu phông TrueType, tức là rơi vào nhánh bên phải nên không có cảnh báo nào hiện ra.
Hệ quả rất cụ thể. Chữ vẫn hiện, khung tên vẫn đọc được hình dạng, nhưng dấu tiếng Việt sai bét vì phông thay thế hiểu mã chữ theo cách khác. Người chưa biết sẽ tưởng tệp lỗi rồi bỏ đi.
Có ba cách chữa, xếp từ dễ tới khó. Cách thứ nhất là cài bộ phông tiếng Việt cho AutoCAD vào thư mục phông của Windows, chữ sẽ trở lại đúng ngay. Cách thứ hai là khai báo phông thay thế trong tệp ánh xạ, mỗi dòng ghi tên phông rồi dấu chấm phẩy rồi tên phông thay. Cách thứ ba là mở hộp thoại kiểu chữ và chỉ định phông khác cho từng Text Style.
Nếu bạn muốn AutoCAD hiện lại hộp thoại báo thiếu phông SHX cho các bản vẽ khác, hãy kiểm biến FONTALT. Khi biến này đang giữ tên một phông thì phần mềm tự thay và không hỏi nữa. Gõ FONTALT rồi nhập một dấu chấm để trả về rỗng.
Không có AutoCAD thì xem bằng gì
Autodesk vẫn phát hành DWG TrueView bản 2026, tải và dùng miễn phí, mở được cả ba tệp và in ra được. Nếu chỉ muốn xem nhanh trên trình duyệt thì dùng Autodesk Viewer, không phải cài gì. Cả hai đều chỉ xem và in, không sửa được bản vẽ.
Dùng lại bộ hồ sơ này: bốn việc phải làm trước
Bộ bản vẽ cad nhà thép tiền chế này đáng giá ở chỗ nó là hồ sơ thật, có đủ ba bộ môn và có chi tiết liên kết. Nhưng nó cũng đã hơn mười năm tuổi, nên đừng chép nguyên tiết diện sang công trình của mình.
- Kiểm lại tiêu chuẩn. Hồ sơ này thiết kế theo tiêu chuẩn cũ. Từ ngày 24 tháng 12 năm 2024 đã có TCVN 5575:2024 về thiết kế kết cấu thép, thay cho TCVN 5575:2012. Tải trọng thì theo TCVN 2737:2023, thay cho TCVN 2737:1995.
- Tính lại tải trọng gió và vùng địa lý. Nhà xưởng nhịp 32 m rất nhạy với gió. Vùng gió của công trình gốc gần như chắc chắn khác vùng gió nơi bạn xây.
- Xem lại sàn lửng. Sàn ở cao độ +5,600 kéo theo tải trọng và sơ đồ tính rất khác nhà xưởng một tầng. Bỏ sàn đi thì cả hệ khung phải tính lại.
- Đối chiếu địa chất. Phần móng và đà kiềng trong tệp bê tông cốt thép gắn với một nền đất cụ thể. Không có báo cáo khảo sát đi kèm thì phần này chỉ dùng để tham khảo cách trình bày.
Dùng đúng cách thì bộ hồ sơ vẫn rất hữu ích: học cách bố trí tờ bản vẽ, cách ghi tiết diện thép tổ hợp, cách đánh số chi tiết liên kết CT và cách trình bày mặt cắt đà kiềng. Đó là phần không lỗi thời theo tiêu chuẩn. Khi thống kê lại khối lượng cho công trình mới, lisp thống kê thép hình trong cad rút bảng thẳng từ bản vẽ.



















