Bảng Properties là chỗ quản lý thuộc tính của đối tượng trong AutoCAD. Chọn một nét vẽ, bảng liệt kê ngay màu, lớp, kiểu đường, độ dày nét và cả số đo hình học của nó. Bài viết dưới đây kiểm lại từng thao tác trên AutoCAD 2026 bản R25.1, giao diện tiếng Anh.
Tóm tắt. Mở bảng bằng Ctrl + 1 hoặc gõ PR. Có chọn đối tượng thì bảng hiện thuộc tính của vật đó, không chọn gì thì bảng hiện thiết lập hiện hành dành cho vật sắp vẽ. Nguyên tắc nghề: để hầu hết thuộc tính ở ByLayer rồi chỉnh tại lớp, chỉ ghi đè khi có lý do rõ ràng. Muốn bê thuộc tính từ vật này sang vật khác thì dùng MATCHPROP, gõ tắt là MA.
Bản vẽ dưới đây là ví dụ kinh điển: tường, cửa, thiết bị vệ sinh, đường điện và chữ ghi chú được tách màu để nhìn một cái là phân biệt được. Màu đó không gán tay cho từng nét, mà đến từ lớp của chúng.
Hình 1. Mỗi nhóm đối tượng một màu. Màu đến từ lớp, không phải gán riêng cho từng nét.
Mở bảng Properties trong AutoCAD 2026
Có bốn đường vào cùng một bảng.
Nhanh nhất là Ctrl + 1. Bấm lần nữa thì bảng đóng lại.
Gõ lệnh cũng được. Trong tệp acad.pgp của bản 2026 có tới năm bí danh cùng trỏ về lệnh PROPERTIES: PR, MO, CH, PROPS và DDMODIFY. Cái tên DDMODIFY là hộp thoại sửa đối tượng của các bản AutoCAD đời cũ, nay chỉ còn giữ lại làm bí danh cho người quen tay.
Trên ribbon, vào tab Home, tìm bảng Properties, bấm mũi tên nhỏ ở góc dưới bên phải tên bảng. Đường thứ tư là tab View, bảng Palettes, nút Properties.
Bảng neo không đóng bằng phím ESC. Properties là bảng neo được, nên ESC chỉ hủy lệnh đang chạy chứ không đóng bảng. Muốn đóng bằng lệnh thì gõ PROPERTIESCLOSE, hoặc bấm lại Ctrl + 1.
Đọc bảng Properties khi đã chọn một đối tượng
Hình dưới là bảng Properties khi chọn một hình tròn nằm trên lớp DIEN.
Hình 2. Bảng Properties trong AutoCAD 2026 khi chọn một hình tròn trên lớp DIEN. Ô trên cùng ghi loại đối tượng đang chọn.
Ô trên cùng ghi Circle, tức loại đối tượng đang chọn. Bên phải ô đó có ba nút nhỏ: nút bật tắt biến PICKADD, nút chọn đối tượng, và nút Quick Select mở hộp thoại lọc theo tiêu chí.
Nhóm General gom chín dòng chung cho gần như mọi đối tượng: Color, Layer, Linetype, Linetype scale, Plot style, Lineweight, Transparency, Hyperlink và Thickness. Dòng Thickness ít được dùng nhất trong nhóm: nó cho một nét vẽ phẳng bề dày theo trục Z, cách đổi giá trị đó có ở bài lệnh CH trong AutoCAD. Nhóm Geometry thì tùy loại vật. Hình tròn trong ảnh cho biết tâm ở toạ độ 3000, 2000, bán kính 400, đường kính 800, chu vi 2513.2741 và diện tích 502654.8246.
Dòng chữ xám là dòng chỉ đọc, sửa không được. Trong ảnh, dòng Plot style ghi ByColor và bị làm mờ vì bản vẽ đang chạy chế độ kiểu in theo màu. Ba dòng Normal X, Normal Y, Normal Z cũng vậy, chúng là hệ quả của mặt phẳng chứa hình tròn.
Chọn nhiều vật cùng lúc thì bảng chỉ liệt kê những thuộc tính chung của cả nhóm. Sửa một dòng là cả nhóm đổi theo trong một lần. Không chọn gì thì bảng đổi vai: nó hiện thiết lập hiện hành sẽ áp cho vật bạn sắp vẽ, kèm hai nhóm View và Misc để bật tắt biểu tượng UCS hay đổi tỉ lệ chú thích.
ByLayer, ByBlock và giá trị gán thẳng
Đây là phần cốt lõi của việc quản lý thuộc tính, và cũng là chỗ nhiều người mới làm hỏng bản vẽ của cả nhóm.
Hình 3. Ba nguồn cấp giá trị cho một thuộc tính. Giá trị gán thẳng luôn thắng lớp.
Trong hình 2, dòng Color ghi ByLayer kèm ô màu tím. Ô màu tím là màu của lớp DIEN, còn chữ ByLayer cho biết hình tròn không có màu riêng. Đổi màu lớp DIEN sang xanh thì hình tròn xanh theo, không phải sửa gì thêm. Vì thế công sức nên dồn vào chỗ đặt màu, kiểu nét và bề dày cho từng lớp ngay từ đầu, cách dựng một bộ lớp như vậy có ở bài thiết lập layer trong AutoCAD.
Nếu ai đó chọn hình tròn rồi đặt Color thành Red, giá trị đó ghi đè lên lớp. Từ lúc đó, đổi màu lớp không còn tác dụng với nó nữa. Bản vẽ nhận đủ vài trăm cú ghi đè kiểu này thì hệ thống lớp coi như hỏng, và người sau phải chọn từng vật để trả về ByLayer.
ByBlock là trường hợp thứ ba, ít gặp hơn. Vật đặt ByBlock sẽ dùng nét liền cho tới khi nó được gom vào một khối. Khi khối được chèn, vật thừa hưởng thuộc tính của khối. Kiểu này hữu ích khi bạn muốn một khối đổi màu theo lớp chèn nó.
Bảng Properties trên ribbon, lối tắt cho ba thuộc tính hay đổi
Bảng Properties chiếm khá nhiều diện tích màn hình. Với ba thuộc tính hay đổi nhất, ribbon có sẵn lối tắt.
Hình 4. Bảng Properties trên tab Home có ba ô: màu, độ dày nét và kiểu đường. Ô lớp nằm ở bảng Layers bên trái.
Ba ô đó theo thứ tự từ trên xuống là Color, Lineweight và Linetype. Khi không chọn gì, chúng hiện thiết lập hiện hành. Khi bạn chọn một vật, cả ba ô lẫn ô lớp bên bảng Layers đều nhảy sang giá trị của vật đó. Trong hình 4, ô lớp ghi DIEN vì hình tròn đang được chọn.
Cơ chế này giống hệt bảng Properties, chỉ gọn hơn. Chọn vài vật rồi thả một giá trị mới trong ô là xong.
Nạp kiểu đường nét trước khi gán
Bản vẽ tạo từ mẫu chuẩn chỉ có ba mục trong danh sách kiểu đường: ByLayer, ByBlock và Continuous. Muốn có nét đứt, nét tâm hay nét khuất thì phải nạp vào bản vẽ trước.
Đường đi theo tài liệu Autodesk là tab Home, bảng Properties, mở danh sách thả xuống của ô Linetype rồi chọn mục Other ở cuối. AutoCAD mở Linetype Manager. Lệnh tương đương là LINETYPE, gõ tắt LT.
Hình 5. Linetype Manager sau khi nạp bảy kiểu đường từ tệp acadiso.lin.
Bấm Load rồi chọn các kiểu cần dùng. AutoCAD lấy định nghĩa từ hai tệp: acad.lin cho bản vẽ hệ inch và acadiso.lin cho bản vẽ hệ mét. Trên AutoCAD LT hai tệp này tên là acadlt.lin và acadltiso.lin. Đừng trộn hai hệ trong cùng một bản vẽ, tỉ lệ nét sẽ lệch nhau rất xa.
Nút Show details mở thêm ba ô đáng chú ý:
| Ô trong Linetype Manager | Biến hệ thống | Tác dụng |
|---|---|---|
| Global scale factor | LTSCALE | Hệ số nhân cho mọi nét trong bản vẽ. Số càng lớn, vạch và khoảng trống càng dài |
| Current object scale | CELTSCALE | Hệ số riêng cho vật sắp vẽ. Tỉ lệ thật bằng hai hệ số nhân với nhau |
| Use paper space units for scaling | PSLTSCALE | Cho nét trong khung nhìn hiện cùng cỡ với nét ngoài giấy, bất kể tỉ lệ khung |
Trên máy dùng để viết bài này, cả ba đều đang ở giá trị 1. Đó cũng là chỗ cần sờ tới đầu tiên khi bạn gán nét đứt mà màn hình vẫn hiện ra một đường liền: nét đứt của bạn có thật, chỉ là mỗi vạch dài hơn cả đối tượng nên không nhìn thấy chỗ ngắt.
Độ dày nét và lý do màn hình không hiện nó
Lineweight là bề dày nét khi in. Điểm quan trọng: bề dày này không đổi theo tỉ lệ phóng của khung nhìn, phóng to hay thu nhỏ thì nét vẫn dày đúng như vậy trên giấy.
Hình 6. Lineweight Settings, mở bằng lệnh LWEIGHT hoặc gõ tắt LW.
Hộp thoại này cho biết vài con số mặc định của AutoCAD 2026. Đơn vị đang là milimet. Giá trị Default là 0.25 mm, đây là bề dày mà mọi lớp mới nhận. Ô Display Lineweight chưa được tick, nghĩa là màn hình không vẽ nét theo bề dày thật.
Không hiện không có nghĩa là không in. Bề dày nét luôn được in đúng giá trị đã đặt, kể cả khi màn hình đang tắt hiển thị. Vì vậy nên để tắt trong lúc dựng hình cho nhẹ máy, chỉ bật lên kiểm tra ngay trước khi in.
Thanh trạng thái có nút bật tắt nhanh mục này, nhưng AutoCAD 2026 không bày sẵn nút đó. Bấm biểu tượng ba gạch ở góc phải thanh trạng thái để mở menu Customization, rồi tick dòng LineWeight. Thanh trượt Adjust Display Scale chỉ tác động lên tab Model, không ảnh hưởng gì tới bố cục in.
MATCHPROP, chép thuộc tính từ vật này sang vật khác
Khi một vật đã đúng và bạn muốn những vật khác giống hệt nó, đừng chỉnh tay từng dòng. Dùng nút Match Properties trên bảng Properties của tab Home, hoặc gõ MATCHPROP, hay gõ tắt MA.
Trình tự chỉ có hai bước: chọn vật nguồn, rồi chọn lần lượt các vật đích. Lệnh vẫn còn chạy sau mỗi lần chọn, nên bạn quét được cả loạt. Có thể chuyển sang bản vẽ khác đang mở để chọn vật đích; cách bê nguyên bộ thuộc tính giữa hai bản vẽ nói kỹ hơn ở bài cách lấy các thuộc tính từ bản vẽ này sang bản vẽ khác.
Gõ S ở dòng nhắc để mở hộp thoại Property Settings, nơi quyết định cái gì được chép và cái gì không.
Hình 7. Property Settings hiện giá trị của chính vật nguồn, ở đây là hình tròn trên lớp DIEN.
Nhóm Basic Properties có tám mục: Color, Layer, Linetype, Linetype Scale, Lineweight, Transparency, Thickness và Plot Style. Trong ảnh, Plot Style bị làm mờ vì bản vẽ chạy chế độ kiểu in theo màu. Nhóm Special Properties có chín mục dành cho vật đặc thù: Dimension, Text, Hatch, Polyline, Viewport, Table, Material, Multileader và Center object.
Mặc định mọi ô đều được tick. Bỏ tick những mục bạn không muốn đụng vào, chẳng hạn giữ nguyên lớp của vật đích mà chỉ chép màu.
Quick Properties, bảng nhỏ hiện ngay cạnh con trỏ
Ngoài bảng lớn, AutoCAD còn một bảng rút gọn bật lên sát con trỏ khi bạn chọn vật. Lệnh là QUICKPROPERTIES, gõ tắt QP, phím tắt là Ctrl + Shift + P.
Chế độ này do biến QPMODE điều khiển, và mặc định của AutoCAD 2026 là tắt. Giá trị 0 là tắt hẳn, 1 là bật cho mọi đối tượng, 2 là chỉ bật cho những loại đã khai báo trong trình soạn CUI. Số âm nghĩa là đang tắt nhưng vẫn giữ lại giá trị cũ để bật lại. Muốn dùng thì biến PICKFIRST phải bằng 1.
Danh sách trường hiện trong bảng nhỏ này sửa được ở thẻ Quick Properties của hộp thoại DSETTINGS. Nút bật tắt trên thanh trạng thái cũng phải tự thêm qua menu Customization như nút LineWeight.
Video dưới đây nói về chính chế độ Quick Properties và cách bật tắt nó. Bản AutoCAD trong video cũ hơn nên giao diện có khác, còn ý tưởng thì vẫn vậy.
Lỗi thường gặp khi quản lý thuộc tính
| Hiện tượng | Vì sao | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Đổi màu lớp mà đối tượng không đổi theo | Đối tượng đã bị gán màu thẳng, giá trị này ghi đè lớp | Chọn vật, đặt lại Color về ByLayer trong bảng Properties |
| Gán nét đứt nhưng màn hình vẫn thấy nét liền | LTSCALE quá nhỏ so với cỡ bản vẽ, mỗi vạch dài hơn cả đối tượng | Tăng Global scale factor trong Linetype Manager rồi REGEN |
| Danh sách Linetype chỉ có ba dòng | Bản vẽ mới chưa nạp kiểu đường nào | Mở ô Linetype trên ribbon, chọn Other, bấm Load rồi chọn kiểu cần dùng |
| Đặt Lineweight rồi mà màn hình không dày lên | LWDISPLAY đang tắt, đây là mặc định | Tick Display Lineweight trong Lineweight Settings. Bản in vẫn đúng dù không bật |
| Chọn nhiều vật thì bảng mất gần hết dòng | Bảng chỉ hiện thuộc tính chung của cả nhóm | Bình thường. Muốn xem đủ thì chọn từng vật một |
| Bấm ESC mà bảng Properties không đóng | Bảng neo không nhận ESC | Gõ PROPERTIESCLOSE hoặc bấm lại Ctrl + 1 |
| MATCHPROP chép luôn cả lớp, làm hỏng bố cục lớp | Mặc định mọi ô trong Property Settings đều được tick | Gõ S khi đang chạy lệnh, bỏ tick Layer |
Câu hỏi thường gặp
Nên quản lý thuộc tính ở lớp hay ở từng đối tượng?
Ở lớp. Để Color, Linetype, Lineweight và Transparency của đối tượng là ByLayer, rồi đặt giá trị thật tại lớp. Cách này cho bạn đổi cả nhóm trong một thao tác, và bản vẽ trao cho người khác vẫn dễ sửa. Chỉ ghi đè khi có một vật thật sự phải khác phần còn lại của lớp. Nhóm lệnh bật, tắt, khoá và gộp lớp dùng cho lối làm việc này gom ở tổng hợp các lệnh về layer trong CAD.
Bảng Properties và Quick Properties khác nhau ở đâu?
Bảng Properties hiện đầy đủ mọi thuộc tính, kể cả nhóm hình học, và ở nguyên một chỗ. Quick Properties chỉ hiện vài dòng do bạn tự chọn, bật lên sát con trỏ rồi tắt đi. Bảng lớn hợp cho việc kiểm tra kỹ, bảng nhỏ hợp cho việc sửa nhanh trong lúc dựng hình.
Làm sao trả một đối tượng đã bị gán màu tay về đúng màu lớp?
Chọn đối tượng, mở bảng Properties, bấm vào dòng Color rồi chọn ByLayer trong danh sách thả xuống. Làm tương tự cho Linetype và Lineweight nếu chúng cũng bị ghi đè. Nhiều vật thì chọn cả loạt rồi sửa một lần.
Sửa giá trị trong bảng Properties bằng những cách nào?
Bấm vào ô giá trị rồi gõ số mới, hoặc chọn từ danh sách thả xuống. Với toạ độ, bảng cho một nút lấy điểm bằng chuột. Với số liệu tính toán, có nút mở máy tính QuickCalc. Vài thuộc tính mở hộp thoại riêng qua nút ba chấm ở cuối ô.
MATCHPROP có chép được sang bản vẽ khác không?
Có. Chọn vật nguồn ở bản vẽ này, chuyển tab sang bản vẽ khác đang mở rồi chọn vật đích. Lệnh vẫn giữ nguyên bộ thuộc tính đã lấy từ vật nguồn.



















