Tài liệu cad

File cad móng cọc nhà phố 5 tầng: đọc bản vẽ và tải về

File cad móng cọc nhà phố 5 tầng 4x19,5m: cọc 250x250 dài 12 m, Ptk 30 tấn, lực ép 53-60 tấn. Link tải gốc, số liệu đọc thẳng từ bản vẽ và cảnh báo khi dùng lại.

  • autocad123.vn
  • 21/08/2023

Bộ file cad móng cọc trên trang này là hồ sơ móng của một căn nhà phố 5 tầng, ngang 4 m và sâu 19,5 m. Gói tải về có hai tệp DWG: một tệp kết cấu và một tệp kiến trúc. Bài viết giữ nguyên link tải cũ. Phần viết thêm là thứ bản trước chưa nói: trong bản vẽ có đúng những con số nào, đọc chúng ra sao, và vì sao không được bê nguyên sang công trình khác.

Tóm tắt. Gói nén là một tệp RAR 2,02 MB, không đặt mật khẩu, giải nén thẳng ra hai tệp DWG ghi ở định dạng AutoCAD 2004. Phần móng là móng cọc ép. Cọc bê tông cốt thép tiết diện 250×250 mm, dài dự kiến 12,0 m chia làm hai đoạn 6 m, sức chịu tải thiết kế 30 tấn một cọc. Đài hai cọc rộng 1500 mm, hai cọc cách nhau 750 mm. Đỉnh cọc sau khi ép nằm ở cao trình −0,800, đáy đài ở −1,400. Toàn bộ số liệu đó gắn với một hồ sơ địa chất mà gói tải về không kèm theo.

Trong gói file cad móng cọc có đúng những gì

Số liệu dưới đây lấy trực tiếp từ gói đã tải về và giải nén, kiểm tháng 9 năm 2026.

Hai tệp DWG và tuổi thật của chúng

TệpDung lượngĐịnh dạngNgày ghi trong gói
KET CAU.dwg1,58 MBAC1018 — AutoCAD 200424/9/2014
KIEN TRUC.dwg861 KBAC1018 — AutoCAD 200412/9/2011
Hướng dẫn lấy pass giải nén file.jpg74 KBJPEG15/8/2025

Mã AC1018 là định dạng ghi của AutoCAD 2004 đến 2006. AutoCAD 2026 mở thẳng, không cần chuyển đổi gì. Tấm ảnh hướng dẫn lấy mật khẩu là tàn dư của một cách phát hành cũ. Gói này không khoá, nên bỏ qua tấm ảnh đó.

Bên kết cấu có 28 khung bản vẽ

Các khung xếp cạnh nhau thành lưới ngay trong không gian mô hình, không dùng không gian in. Đếm trên ảnh chụp toàn bộ tệp được 28 khung. Trong đó có bản ghi chú chung, các bản cấu tạo thép, mặt bằng móng, mặt bằng sàn từng tầng, dầm và cầu thang.

Góc trên bên trái tệp kết cấu có một bảng nhỏ liệt kê bề dày nét in cho từng màu, từ đỏ, vàng, lục, lơ, lam, tím đến trắng. Đó là dấu hiệu bản vẽ in theo kiểu nét phụ thuộc màu, tức là bảng .ctb, chứ không gán bề rộng nét cho lớp. Muốn in ra giống bản gốc thì phải dựng lại bảng màu ấy.

Toàn cảnh tệp kết cấu trong file cad móng cọc, các khung bản vẽ xếp thành lưới

Hình 1. Toàn bộ tệp kết cấu thu về một màn hình. Các khung bản vẽ nằm cạnh nhau trong không gian mô hình; bảng nét in theo màu ở góc trên bên trái.

Bản ghi chú chung trong file cad móng cọc, gồm cấu tạo thép và chiều dài neo nối

Hình 2. Bản ghi chú chung của tệp kết cấu, gom mười một bảng cấu tạo: khoảng cách thanh thép, vị trí nối thép cột, chiều dày lớp bê tông bảo vệ, chiều dài đoạn neo và nối, vị trí cắt thép trong dầm. Đây là bản đáng mượn nhất trong cả bộ.

Bên kiến trúc có 7 khung

Tệp kiến trúc gọn hơn nhiều: năm mặt bằng tầng, một mặt cắt và một mặt đứng. Nó đủ để hiểu công năng và vị trí cột, nhưng phần đáng học nằm ở tệp kết cấu. Cần hồ sơ kiến trúc dựng kỹ hơn thì trang có bộ riêng, chẳng hạn file cad kiến trúc nhà phố 4 tầng 5,2×22 m.

Toàn cảnh tệp kiến trúc nhà phố 5 tầng với năm mặt bằng tầng, một mặt cắt và một mặt đứng

Hình 3. Tệp kiến trúc: hai khung trên là mặt cắt và mặt đứng, năm khung xếp dọc bên dưới là mặt bằng của năm tầng.

Video dưới đây đi qua một bộ hồ sơ nhà phố 5 tầng tương tự, gồm cả kết cấu, kiến trúc và điện nước, hữu ích nếu bạn muốn thấy toàn cảnh trước khi mở tệp.

Bốn bản vẽ làm nên bộ móng

Mặt bằng bố trí định vị cọc

Bản này chỉ vẽ tim cọc và kích thước tới tim cọc. Nhà rộng 4 m theo phương ngang, chỉ có hai trục A và B, và sáu hàng cột chạy theo chiều dài. Dưới mỗi cột, hai cọc đặt đối xứng qua trục, mỗi cọc cách trục 375 mm. Hai tim cọc vì thế cách nhau 750 mm, đúng bằng ba lần cạnh cọc. Đó là khoảng cách tối thiểu quen thuộc cho cọc vuông, đặt sát hơn thì nhóm cọc bắt đầu ăn lẫn sức chịu tải của nhau.

Mặt bằng định vị móng và một quy ước dễ đọc nhầm

Bản thứ hai vẽ đài và cột. Đài hai cọc ký hiệu M1 và M2, rộng 1500 mm. Hai đài góc M3 và M4 chỉ có một cọc. Ghi chú trên bản vẽ nói rõ một điều mà người mới hay bỏ qua: kích thước tới cọc là tới tim cọc, còn kích thước tới đài và tới giằng móng là tới mép. Đọc nhầm hai quy ước này là lệch cả hàng cọc.

Mặt bằng bố trí định vị cọc và mặt bằng định vị móng của nhà phố 5 tầng

Hình 4. Hai mặt bằng nằm chồng nhau trên cùng một khung. Bản trên chỉ vẽ cọc và ghi kích thước tới tim cọc; bản dưới vẽ đài và cột, ghi kích thước tới mép đài. Hai đài góc ký hiệu M3 và M4 chỉ có một cọc.

Chi tiết cọc

Cọc dài 12 m nhưng không đúc liền. Bản vẽ tách thành đoạn cọc 1 và đoạn cọc 2, mỗi đoạn 6 m, nối với nhau bằng bản thép chờ sẵn và hộp nối hàn. Trên hộp nối có lỗ kiểm soát để thợ nhìn thấy đường hàn ngấu hay chưa.

Thép đai dày ở hai đầu và thưa ở giữa: Ø8a100 trong 1500 mm mỗi đầu, Ø8a150 cho 3000 mm ở giữa. Ngay đỉnh cọc còn bốn lưới thép Ø6a50 để chống nứt khi máy ép nện xuống. Bốn thanh thép dọc chạy suốt thân cọc, tới mũi thì chụm lại và hàn vào một thanh dọc trục.

Chi tiết hai đoạn cọc bê tông cốt thép 250x250 và hộp nối cọc

Hình 5. Cọc chia hai đoạn 6 m. Đai dày Ø8a100 ở hai đầu và thưa Ø8a150 ở giữa, vì hai đầu chịu ứng suất lớn nhất khi ép. Mặt cắt 3-3 và chi tiết hộp nối cọc nằm ở hàng dưới.

Mặt bằng giằng móng

Giằng móng nối các đài lại thành một khung, giữ cho đài không xoay và chia bớt lún lệch. Dầm GM2 chạy dọc suốt nhà, dài 19,0 m, tiết diện đổi từ 200×500 sang 200×700. Các dầm ngang nhỏ hơn: GM4 và GM5 tiết diện 200×400, GM6 tới GM8 tiết diện 200×300. Thép chủ phổ biến là 2Ø16, đai Ø6 rải a100 ở gối và a200 ở giữa nhịp.

Mặt bằng bố trí định vị giằng móng và các mặt cắt dầm giằng

Hình 6. Giằng móng nối các đài thành một khung phẳng. Dầm GM2 chạy dọc suốt 19 m và đổi tiết diện từ 200×500 sang 200×700 ở đoạn chịu lực lớn hơn.

Số liệu cọc đọc thẳng từ bản vẽ

Hạng mụcGiá trị ghi trên bản vẽ
Loại cọcBê tông cốt thép đúc sẵn, ép
Tiết diện250 × 250 mm
Chiều dài dự kiến12,0 m — hai đoạn 6,0 m
Sức chịu tải thiết kế Ptk30 tấn
Lực ép nhỏ nhất175 % Ptk = 53 tấn
Lực ép lớn nhất200 % Ptk = 60 tấn
Thí nghiệm nén tĩnh02 cọc, làm trước khi ép đại trà
Cao trình đỉnh cọc sau khi ép−0,800
Cao trình đáy móng trên nền cọc−1,400
Đai cọcØ8a100 hai đầu, Ø8a150 đoạn giữa
Lưới đầu cọcØ6a50, 4 lưới
Bê tông dầm, sàn, cầu thangĐá 10×20, cấp độ bền B15 (tương đương mác 200)
Nối cốt thépLn ≥ 40 lần đường kính lớn nhất, nối buộc điểm cách nhau ≤ 20 cm

Vì sao đỉnh cọc lại cao hơn đáy đài

Đây là chỗ nhiều người đọc lần đầu thấy vô lý. Cao trình −0,800 nằm trên cao trình −1,400 những 600 mm, mà đáy đài lại là −1,400. Nghĩa là sau khi ép xong, đầu cọc nhô lên khỏi đáy đài đúng 600 mm.

Đoạn nhô đó không phải để nguyên. Thợ sẽ đập vỡ bê tông đầu cọc, lấy phần thép dọc lộ ra rồi bẻ vào lòng đài. Cọc và đài chỉ thành một khối nhờ đoạn thép đó. Ép đúng cao trình mà quên chừa phần đập đầu cọc thì không còn thép để neo.

Ba cao trình trên mặt cắt móng cọc ±0.000 · cốt nền Đài cọc −0.800 · đỉnh cọc −1.400 · đáy đài 600 Cọc 250×250, dài 12,0 m, hai tim cách 750 600 mm đầu cọc bị đập bỏ để lấy thép neo

Hình 7. Đầu cọc nhô lên trên đáy đài 600 mm. Đoạn đó bị đập bỏ bê tông để lấy thép dọc bẻ vào lòng đài, nhờ vậy cọc và đài mới làm việc như một khối.

Ba mức lực trong hồ sơ ép cọc

Bản vẽ ghi ba con số chứ không phải một. Sức chịu tải thiết kế 30 tấn là tải mà cọc phải gánh khi nhà đã xây xong. Lực ép nhỏ nhất 53 tấn là mức máy phải đạt thì mới được dừng, để chắc rằng mũi cọc đã vào lớp đất tốt. Lực ép lớn nhất 60 tấn là trần, vượt qua là có nguy cơ vỡ thân cọc.

Ba con số này khớp với khung mà tiêu chuẩn hiện hành đưa ra. TCVN 9394:2012 nêu lực ép nhỏ nhất thường lấy bằng 150 % đến 200 % tải trọng thiết kế, còn lực ép lớn nhất thường lấy bằng 200 % đến 300 %. Bản vẽ chọn 175 % và 200 %, tức là nằm gọn trong khung, và chọn trần ở mức thấp nhất được phép.

Ba mức lực ghi trên bản vẽ Ptk · tải thiết kế 30 tấn Lực ép nhỏ nhất · 175 % 53 tấn Lực ép lớn nhất · 200 % 60 tấn Khung của TCVN 9394:2012 · 150–200 % và 200–300 %

Hình 8. Ba mức lực đi cùng nhau trong hồ sơ ép cọc. Chỉ nhìn Ptk mà chọn máy là thiếu, vì thứ quyết định thiết bị là lực ép lớn nhất.

Khi nào nhà phố phải làm móng cọc

Ba điều kiện hay đi cùng nhau

Điều kiện thứ nhất là nền yếu. Ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khu vực có lớp bùn sét hoặc sét dẻo chảy dày vài mét sát mặt đất. Móng nông đặt lên lớp đó sẽ lún và lún không đều.

Điều kiện thứ hai là tải lớn. Nhà 5 tầng dồn xuống mỗi cột vài chục tấn. Với đất tốt thì móng băng còn gánh nổi, với đất yếu thì không.

Điều kiện thứ ba là mặt bằng hẹp. Nhà phố ngang 4 m như bản vẽ này gần như không còn chỗ mở rộng đáy móng. Bề ngang 4 m là cỡ lô rất phổ biến, file cad kiến trúc nhà phố 3 tầng 4×18 m cũng đúng bề ngang ấy. Không nới được bề rộng thì phải đi xuống sâu, và cọc là cách đi xuống rẻ nhất.

Khác móng băng ở chỗ nào

Móng băng truyền tải bằng cách trải rộng đáy móng trên lớp đất ngay dưới nhà, còn móng cọc dẫn tải xuyên qua lớp đất yếu để tì vào lớp đất tốt bên dưới. Nếu công trình của bạn nằm trên nền tốt và tải vừa phải thì đọc thêm bài về file cad móng băng.

Vì sao nhà trong ngõ hay ép cọc chứ ít khoan nhồi

Lý do đầu tiên là lối vào. Khoan nhồi cần xe cẩu, xe bồn bê tông và chỗ chứa bùn thải. Ngõ rộng ba mét không đưa nổi từng ấy thiết bị vào.

Lý do thứ hai là đối trọng. Máy ép tải phải chất hàng chục tấn khối bê tông lên giá, nên cũng cần mặt bằng. Vì vậy nhà trong ngõ thường dùng máy ép neo, lấy các mũi neo xoắn xuống đất làm đối trọng thay cho khối nặng. Đổi lại, lực ép mà máy neo đạt được thường thấp hơn máy ép tải.

Chỗ này bản vẽ cho bạn một con số để quyết định. Lực ép lớn nhất là 60 tấn, nên thiết bị chọn phải ép được tới mức đó. Nếu máy trong ngõ chỉ đạt bốn mươi mấy tấn thì phải đổi phương án cọc, chứ không phải cứ ép cho xong.

Khoan nhồi đường kính nhỏ vẫn có chỗ dùng: khi ngõ quá hẹp để đưa đoạn cọc 6 m vào, hoặc khi nhà liền kề đã yếu và chủ nhà sợ ép gây trồi đất. Đây là lựa chọn của người thiết kế sau khi xem địa chất, không phải thứ chọn theo thói quen.

Đây là bản vẽ tham khảo, không phải bản dùng lại

Số cọc, chiều dài cọc và tiết diện cọc trong bộ bản vẽ này phụ thuộc vào kết quả khảo sát địa chất của đúng mảnh đất đó và tải trọng của đúng ngôi nhà đó. Gói tải về không kèm báo cáo địa chất, nên không có cách nào kiểm chứng lại. Bê nguyên sang công trình khác là nguy hiểm, không phải tiết kiệm.

Chính bản vẽ cũng tự nói như vậy. Trong phần quy định về móng cọc có câu: phải thử nghiệm sức chịu tải của hai cọc bằng phương pháp nén tĩnh trước khi ép đại trà, và chỉ khi có số liệu thử tải thì đơn vị thiết kế mới ra quyết định chính thức về tiết diện ngang và chiều dài cọc.

Nói cách khác, ngay cả ở công trình gốc thì cọc 250×250 dài 12 m mới chỉ là con số dự kiến. Con số chốt nằm ở kết quả nén tĩnh. Yêu cầu tối thiểu hai cọc thử cũng trùng với TCVN 9393:2012, tiêu chuẩn thử tải trọng tĩnh ép dọc trục hiện hành.

Vậy dùng bộ file này vào việc gì cho phải? Học cách trình bày một bộ bản vẽ móng cọc đầy đủ, mượn cách bố trí ghi chú chung, mượn cấu tạo hộp nối cọc và cách ghi ba mức lực ép. Còn số liệu thì tính lại từ địa chất của bạn.

Tải file cad móng cọc nhà phố 5 tầng

Tải về

Nhà phố 5 tầng 4×19,5 m — kết cấu và kiến trúc

Hai tệp DWG trong thư mục NHA PHO 4x19.5m. Tệp kết cấu chứa đủ bộ móng cọc: mặt bằng cọc, mặt bằng đài, chi tiết cọc và mặt bằng giằng móng.

  • Định dạng DWG AutoCAD 2004
  • Số tệp 2 tệp DWG
  • Dung lượng 2,02 MB nén, 2,49 MB sau giải nén
Tải bộ bản vẽ

Gói không đặt mật khẩu, giải nén thẳng. Đã tải và mở lại ngày 2 tháng 9 năm 2026.

Tiêu chuẩn ghi trên bản vẽ đã đổi hết

Bản ghi chú chung liệt kê tám tiêu chuẩn và tài liệu làm cơ sở thiết kế. Bản vẽ ra đời năm 2014, nên danh sách ấy nay đã cũ. Dưới đây là các cặp đã tra lại vào tháng 9 năm 2026.

Ghi trên bản vẽBản thay thế
TCXD 205:1998 — Móng cọc, tiêu chuẩn thiết kếTCVN 10304:2014
TCXDVN 286:2003 — Đóng và ép cọcTCVN 9394:2012
TCXDVN 269:2002 — Cọc, thử tải trọng tĩnh ép dọc trụcTCVN 9393:2012
TCVN 2737:1995 — Tải trọng và tác độngTCVN 2737:2023
TCXDVN 375:2006 — Thiết kế công trình chịu động đấtTCVN 9386:2012

Ba tiêu chuẩn còn lại trong danh sách, gồm TCXD 45:1978, TCXDVN 338:2005 và TCXDVN 239:2006, cũng đều đã có bản chuyển đổi. Nếu bạn định trích dẫn thì tra lại số hiệu trước khi ghi vào hồ sơ.

Có một chỗ nữa cần cập nhật: bản vẽ ghi mác cốt thép theo cách cũ, kiểu “loại AIII, thép gờ đường kính trên 16 mm, cường độ 360 MPa”. Từ khi TCVN 5574:2018 và TCVN 1651-2:2018 có hiệu lực, mác thép ghi theo ký hiệu CB240-T, CB300-V hay CB400-V. Đọc bản vẽ cũ thì hiểu ý, nhưng ghi bản vẽ mới thì dùng ký hiệu mới.

Mở bộ bản vẽ trên AutoCAD 2026: hai chỗ dễ vấp

Chữ trong bản vẽ dùng font VNI-Times

Toàn bộ chữ tiếng Việt trong tệp kết cấu mã hoá theo bảng VNI và gọi font VNI-Times. Máy nào không cài họ font VNI sẽ bị AutoCAD hỏi font thay thế, và mọi dấu tiếng Việt sẽ nát thành ký tự lạ.

Cách xử lý gọn nhất là cài bộ font VNI rồi mở lại, các bước cụ thể nằm ở bài cách sửa lỗi font trong AutoCAD. Đừng vội đổi kiểu chữ sang một font Unicode, vì nội dung bên trong vẫn là mã VNI. Đổi font chỉ làm chữ sai theo kiểu khác.

Ký hiệu %%C và %%U trong dòng chữ

Trong tệp, đường kính thép được ghi là %%C8a100 chứ không phải Ø8a100. Đó là mã điều khiển của AutoCAD: %%C vẽ ra ký hiệu đường kính, %%U bật gạch chân, còn %%% in ra dấu phần trăm. Vì thế dòng ghi lực ép trong tệp có dạng Pmax = 200%%% Ptk nhưng khi vẽ ra màn hình lại đọc là Pmax = 200 % Ptk.

Biết mấy mã này thì tìm kiếm và thay thế hàng loạt mới ra đúng kết quả. Gõ ký tự Ø vào ô tìm kiếm sẽ không khớp gì cả.