Cầu thang 4 vế là kiểu thang có bốn đoạn bậc liên tục và ba chiếu nghỉ giữa hai sàn tầng. Bài này lấy số liệu từ ba văn bản gốc, làm một ví dụ tính đầy đủ cho tầng cao 3,6 m, và chỉ ra một cái bẫy về chiều cao thông thuỷ mà các trang khác chưa nói tới.
Tóm tắt. Cổ bậc không lớn hơn 190 mm, mặt bậc không nhỏ hơn 250 mm, tổng hai lần cổ bậc cộng mặt bậc nằm trong khoảng 550 đến 700 mm. Bản thang rộng ít nhất 700 mm. Chiếu nghỉ rộng ít nhất bằng bề rộng vế thang. Thông thuỷ ít nhất 2 000 mm. Lan can cao ít nhất 900 mm. Bốn vế cần ô thang gần vuông cỡ 2,84 m cho tầng 3,6 m, hơn thang hai vế khoảng 38 phần trăm diện tích. Cách xếp hai chữ U chồng nhau tiết kiệm mặt bằng nhưng hụt thông thuỷ.
Cầu thang 4 vế là gì, và vì sao các nguồn nói khác nhau
Khái niệm gốc duy nhất tra được là "vế thang". QCXDVN 05:2008/BXD, mục 3.3.3, định nghĩa vế thang là bộ phận của cầu thang có các bậc liên tục theo một chiều. Từ đó suy ra: bốn vế nghĩa là bậc đổi hướng ba lần, và mỗi lần đổi hướng phải có một chiếu nghỉ.
Nhưng đây là chỗ cần nói thẳng. Không văn bản nào trong ba văn bản dẫn ở bài này định nghĩa riêng cụm bốn vế. Giáo trình cấu tạo kiến trúc xếp bốn vế là một hình thức thang giữa hai sàn tầng, còn phần lớn trang thương mại chỉ dừng ở ba vế. Vì vậy khi đặt hàng, đừng đặt bằng chữ. Hãy đếm chiếu nghỉ: bốn vế thì phải có đúng ba chiếu nghỉ trong một tầng.
Hình 1. Bốn vế chạy quanh một lồng thang, ba chiếu nghỉ CN 1 đến CN 3 nằm ở ba góc. Góc thứ tư là chỗ tiếp đất của sàn tầng, cũng là nơi vế 4 lên tới sàn tầng trên. Mũi tên chỉ chiều lên.
Số liệu bắt buộc lấy từ ba văn bản nào
Ba văn bản dưới đây đều tra được bản gốc. Con số trong bảng chép nguyên từ đó, không lấy lại từ blog nào.
| Kích thước | Giá trị | Nguồn |
|---|---|---|
| Chiều cao cổ bậc | Không lớn hơn 190 mm, không nhỏ hơn 50 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
| Chiều rộng mặt bậc | Không nhỏ hơn 250 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
| Hai lần cổ bậc cộng mặt bậc | Từ 550 mm đến 700 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
| Chiều rộng bản thang | Không nhỏ hơn 700 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
| Chiều rộng chiếu nghỉ | Không nhỏ hơn chiều rộng thông thuỷ của vế thang | TCVN 13967:2024, mục 5.11; QCXDVN 05:2008/BXD, mục 3.4.1.4 |
| Chiều cao thông thuỷ | Không nhỏ hơn 2 000 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11; QCXDVN 05:2008/BXD, mục 3.4.1.3 |
| Chiều cao lan can | Không nhỏ hơn 900 mm, khe hở không lớn hơn 100 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11; QCXDVN 05:2008/BXD, Bảng 3.2 |
| Tay vịn cầu thang | Hai bên vế thang; nếu một bên là tường thì có thể bỏ tay vịn bên tường | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
| Tay vịn theo quy chuẩn chung | Ít nhất một bên nếu vế thang rộng dưới 1 m, cả hai bên nếu rộng hơn 1 m | QCXDVN 05:2008/BXD, mục 3.4.1.6 |
| Thang thoát người của nhà liên kế | Rộng không nhỏ hơn 0,9 m; mặt bậc từ 0,25 m; cổ bậc tối đa 0,19 m | TCVN 9411:2012, mục 6.3.5.1 |
| Bậc hở | Mặt bậc trùm lên nhau ít nhất 16 mm, khe giữa hai bậc không quá 100 mm | TCVN 13967:2024, mục 5.11 |
Hai chỗ hay bị chép sai. Thứ nhất là bề rộng thang: có trang ghi 60 cm, thấp hơn mức 700 mm của tiêu chuẩn, và nếu là nhà ở liên kế thì thang thoát người còn phải đủ 0,9 m theo TCVN 9411:2012. Thứ hai là lan can: có trang ghi khoảng 85 đến 110 cm, trong đó mức 85 cm nằm dưới trần 900 mm. Đừng lấy khoảng đó làm chuẩn đặt thợ.
Ba văn bản, ba phạm vi khác nhau. TCVN 13967:2024 viết riêng cho nhà ở riêng lẻ, là văn bản sát nhất với nhà dân. TCVN 9411:2012 dành cho nhà ở liên kế. QCXDVN 05:2008/BXD là quy chuẩn về nhà ở và công trình công cộng, phần an toàn sinh mạng. Khi hai văn bản chênh nhau, hãy lấy mức chặt hơn và ghi rõ nguồn trong hồ sơ thiết kế.
Ví dụ tính đầy đủ cho tầng cao 3,6 m
Đây là phần mà phần lớn trang đối thủ bỏ trống. Số liệu dưới đây tự kiểm được bằng phép nhân chia đơn giản.
Đề bài. Tầng cao 3,6 m, muốn chia đều cho bốn vế, bản thang rộng 900 mm.
Bước 1. Chọn 20 bậc cho cả tầng. Cổ bậc bằng 3 600 chia 20, ra 180 mm. Mức này nhỏ hơn trần 190 mm nên đạt.
Bước 2. Chọn mặt bậc 260 mm, lớn hơn mức tối thiểu 250 mm. Kiểm tổng: hai lần 180 cộng 260 bằng 620 mm, nằm trong khoảng 550 đến 700 mm nên đạt.
Bước 3. Chia 20 bậc cho bốn vế, mỗi vế 5 bậc. Một vế 5 bậc có 4 mặt bậc nằm ngang, dài 4 nhân 260 bằng 1 040 mm.
Bước 4. Xếp bốn vế quanh lồng thang. Cạnh ô thang bằng 900 cộng 1 040 cộng 900, ra 2 840 mm. Ô thang vuông 2 840 nhân 2 840, tức 8,07 m vuông.
Bước 5. So với thang hai vế cùng 20 bậc. Mỗi vế 10 bậc, dài 9 nhân 260 bằng 2 340 mm, cộng chiếu nghỉ 900 thành 3 240 mm. Bề ngang 2 nhân 900 bằng 1 800 mm. Diện tích 5,83 m vuông.
Kết luận. Bốn vế tốn hơn hai vế khoảng 38 phần trăm diện tích ô thang. Riêng phần chiếu nghỉ, ba cái 900 nhân 900 cộng lại là 2,43 m vuông, gấp rưỡi chiếu nghỉ duy nhất 1 800 nhân 900 của thang hai vế.
Hình 2. Trục đứng là cao độ tính bằng milimét. Dải dưới cùng là chiều dài triển khai của từng đoạn, đúng tỉ lệ với nhau.
Bẫy thông thuỷ khi ép bốn vế vào ô thang hẹp
Nhiều người chọn bốn vế vì tưởng nó hợp mặt bằng hẹp. Điều ngược lại mới đúng. Cách xếp quanh lồng thang ở Hình 1 cần ô thang gần vuông cỡ 2,84 m, rộng hơn thang hai vế. Muốn nhét bốn vế vào một ô hẹp thì phải xếp kiểu hai chữ U chồng lên nhau, và lúc đó phát sinh một va chạm hình học.
Trong cách xếp đó, chiếu nghỉ thứ nhất và chiếu nghỉ thứ ba rơi vào cùng một đầu ô thang, cái nọ nằm ngay trên cái kia. Chiếu nghỉ thứ nhất ở cao độ 900, chiếu nghỉ thứ ba ở cao độ 2 700. Khoảng cách giữa hai mặt sàn là 1 800 mm, đúng bằng nửa chiều cao tầng. Trừ đi bản sàn chiếu nghỉ dày khoảng 150 mm, người đi bên dưới chỉ còn chừng 1 650 mm thông thuỷ.
Mức đó thấp hơn hẳn 2 000 mm mà cả TCVN 13967:2024 lẫn QCXDVN 05:2008/BXD cùng đòi. Muốn kiểu xếp này đạt chuẩn, chiều cao tầng phải từ khoảng 4,3 m trở lên, vì khi đó nửa chiều cao tầng trừ bản sàn mới còn đủ 2 m. Nhà ở thông thường cao 3,2 đến 3,6 m nên gần như chắc chắn phạm.
Hình 3. Mặt cắt tại một đầu ô thang khi bốn vế xếp kiểu hai chữ U chồng nhau. Hình vẽ theo tỉ lệ đứng của tầng 3,6 m.
Kích thước bậc và lan can, đọc theo hình
Ba đại lượng cần nhớ là cổ bậc, mặt bậc và tổng hai lần cổ bậc cộng mặt bậc. Lan can đo từ mũi bậc lên tay trên cùng.
Hình 4. Vạch đỏ là tay trên của lan can, đo thẳng đứng từ mũi bậc lên. Các số trong khung là ngưỡng của TCVN 13967:2024.
Số bậc mỗi vế: không văn bản nào đặt trần
Các trang đang xếp hạng chép nhau con số 16 hoặc 18 bậc tối đa cho một vế. Chúng lệch nhau, và không trang nào dẫn được điều khoản. Chúng tôi đã tìm trong toàn văn TCVN 13967:2024, TCVN 9411:2012 và QCXDVN 05:2008/BXD, không văn bản nào đặt trần số bậc cho một vế.
Con số quen thuộc 3 đến 18 bậc là khuyến nghị của giáo trình cấu tạo kiến trúc, dựa trên sức leo của người bình thường. Nó hữu ích, nhưng nó là kinh nghiệm chứ không phải quy định. Với thang bốn vế thì chuyện này gần như không thành vấn đề, vì chia bốn nên mỗi vế chỉ còn 5 đến 6 bậc.
Sinh lão bệnh tử: tập quán dân gian, không phải yêu cầu kỹ thuật
Cách đếm này gán bốn chữ Sinh, Lão, Bệnh, Tử lặp vòng cho từng bậc, và người ta mong bậc cuối rơi vào chữ Sinh. Đây là tập quán dân gian. Không văn bản kỹ thuật nào nhắc tới nó, và bài này ghi lại chỉ để bạn biết nó xung đột với số học ở đâu.
Trở lại ví dụ 20 bậc. Số 20 chia hết cho 4 nên bậc thứ 20 rơi vào chữ Tử. Muốn vào chữ Sinh thì phải lấy 21 bậc, mà 21 không chia hết cho 4. Khi đó ba vế 5 bậc và một vế 6 bậc, hoặc phải đổi cổ bậc thành 3 600 chia 21, tức khoảng 171 mm. Cả hai cách đều vẫn đạt chuẩn, nhưng vế thang sẽ dài ngắn khác nhau và ô thang phải nới thêm. Bạn tự cân nhắc, đừng để thợ quyết hộ.
An toàn cháy: dẫn đúng văn bản
Không có quy chuẩn riêng về an toàn cháy dành cho nhà ở. Cái sát nhất là Điều 9 của TCVN 13967:2024, một tiêu chuẩn chứ không phải quy chuẩn. Điều 9 áp cho nhà cao dưới 7 tầng, chiều cao phòng cháy chữa cháy dưới 25 m, khối tích dưới 5 000 m khối, có tối đa một tầng hầm hoặc một tầng nửa hầm.
Trong Điều 9 có hai nhánh khác nhau. Mục 9.2 dành cho nhà chỉ để ở, và cho phép thoát nạn qua cầu thang bộ loại 2, tức thang hở trong nhà. Mục 9.3 dành cho nhà ở kết hợp mục đích khác, chẳng hạn nhà ở kết hợp bán hàng. Nhánh 9.3 chặt hơn hẳn: bản thang trên đường thoát nạn phải rộng không nhỏ hơn 1,2 m theo mục 9.3.1.4.2, và nhà từ 3 tầng trở lên cần tối thiểu hai lối ra thoát nạn từ mỗi tầng theo mục 9.3.4.3.5.
Quy chuẩn chung về an toàn cháy cho nhà và công trình là QCVN 06:2022/BXD, kèm Sửa đổi 1:2023 ban hành theo Thông tư 09/2023/TT-BXD, hiệu lực từ ngày 1/12/2023. Khi kiểm tháng 9/2026, đó vẫn là bản đang dùng. Nếu bạn gặp bài dẫn một số hiệu năm khác thì hãy tra lại trên trang của Bộ Xây dựng trước khi tin.
Lỗi thường gặp trên các trang khác
| Điều hay đọc thấy | Vì sao sai | Số đúng |
|---|---|---|
| Bề rộng thang 60 cm là được | Thấp hơn mức tối thiểu của tiêu chuẩn nhà ở riêng lẻ | Từ 700 mm; nhà liên kế thang thoát người từ 0,9 m |
| Chiếu nghỉ 80 cm là đủ | Chỉ đúng khi vế thang rộng không quá 800 mm; với bản thang 900 mm thì trái mục 3.4.1.4 | Không nhỏ hơn bề rộng thông thuỷ của vế thang, đo cả chiều dài lẫn chiều rộng |
| Lan can cao 85 đến 110 cm | Mức 85 cm nằm dưới trần bắt buộc | Không nhỏ hơn 900 mm, khe hở không quá 100 mm |
| Một vế tối đa 16 hoặc 18 bậc | Hai con số chép lệch nhau, không dẫn được điều khoản | Ba văn bản gốc không đặt trần; 3 đến 18 là khuyến nghị giáo trình |
| Bốn vế hợp mặt bằng hẹp và dài | Ngược thực tế, kiểu quanh lồng thang cần ô gần vuông | Ô thang cỡ 2,84 m vuông cho tầng 3,6 m |
| Chỉ nhắc chung chung tiêu chuẩn cầu thang | Bỏ qua TCVN 13967:2024, văn bản viết riêng cho nhà ở riêng lẻ | Lấy mục 5.11 làm gốc, đối chiếu thêm hai văn bản kia |
Câu hỏi thường gặp
Cầu thang 4 vế có mấy chiếu nghỉ?
Đúng ba chiếu nghỉ trong một tầng, vì bốn đoạn bậc thì có ba lần đổi hướng. Đây là cách kiểm nhanh nhất khi nhận bản vẽ: đếm chiếu nghỉ chứ đừng tin chữ ghi trên bản vẽ.
Tầng nhà tôi cao 3,2 m thì chia bao nhiêu bậc?
Chia 18 bậc thì cổ bậc bằng 3 200 chia 18, ra khoảng 178 mm, vẫn dưới trần 190 mm. Với mặt bậc 260 mm thì tổng hai lần cổ bậc cộng mặt bậc là 616 mm, nằm trong khoảng cho phép. Chia bốn vế thì hai vế 5 bậc và hai vế 4 bậc.
Bốn vế có tốn diện tích hơn hai vế nhiều không?
Trong ví dụ tầng 3,6 m ở trên, ô thang bốn vế là 8,07 m vuông so với 5,83 m vuông của hai vế, hơn khoảng 38 phần trăm. Bù lại mỗi vế chỉ 5 bậc nên leo đỡ mệt, và lồng thang giữa dùng được làm giếng lấy sáng.
Có bắt buộc làm tay vịn cả hai bên không?
Hai văn bản nói khác nhau ở chỗ này. TCVN 13967:2024, mục 5.11, yêu cầu tay vịn ở hai bên vế thang, và nếu một bên là tường thì có thể bỏ tay vịn bên tường đó. QCXDVN 05:2008/BXD, mục 3.4.1.6, chỉ đòi một bên khi vế thang rộng dưới 1 m. Với nhà ở riêng lẻ, hãy theo mức chặt hơn của TCVN 13967:2024. Riêng lan can ở các cạnh hở thì luôn bắt buộc, cao ít nhất 900 mm.
Nguồn và mốc kiểm
Các số liệu trong bài đọc trực tiếp từ bản gốc ba văn bản. Đó là TCVN 13967:2024 về nhà ở riêng lẻ, TCVN 9411:2012 về nhà ở liên kế, và QCXDVN 05:2008/BXD về an toàn sinh mạng và sức khoẻ. Phần an toàn cháy dẫn theo Điều 9 của TCVN 13967:2024 và QCVN 06:2022/BXD kèm Sửa đổi 1:2023. Tất cả kiểm lại vào tháng 9/2026. Tiêu chuẩn và quy chuẩn có thể được thay thế, nên trước khi nộp hồ sơ hãy tra lại bản đang hiệu lực.
